Tán Thán Công Hạnh Tôn Sư

05/03/202614:05(Xem: 1445)
Tán Thán Công Hạnh Tôn Sư

ht nhu tin-4
讚歎功行尊師

尊師如信歷多年,
精進修行志願堅。
暮鼓晨鐘培妙行,
朝經夕偈結真禪。
戒香定靜開方便,
法派周流度有緣。
祝聖承當宗永振,
興隆石柱淨心源。
心源廣照義恩傳,
一鉢三衣般若宣。
祖印重光歸本願,
佛音啟道向真圓。
玄奘善脈和華德,
慧發賢機會福天。
悟旨隨時離妄念,
無常滿願寂安然

Tán Thán Công Hạnh Tôn Sư
-Thành kính hướng về Giác Linh Đường đảnh lễ tưởng niệm
Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Như hạ Tín, Kính nguyện Giáo Linh Hoà Thượng Cao Đăng Phật Quốc.
-Thành kính phân ưu cùng môn đồ pháp quyến.


Tôn sư Như Tín lịch đa niên,
Tinh tấn tu hành chí nguyện kiên.
Mộ cổ thần chung bồi diệu hạnh,
Triêu kinh tịch kệ kết chân thiền.

Giới hương định tĩnh khai phương tiện,
Pháp phái châu lưu độ hữu duyên.
Chúc Thánh thừa đương tông vĩnh chấn,
Hưng Long thạch trụ tịnh tâm nguyên.

Tâm nguyên quảng chiếu nghĩa ân truyền,
Nhất bát tam y Bát nhã tuyên.
Tổ ấn trùng quang quy bản nguyện,
Phật âm khải đạo hướng chân viên.

Huyền Trang thiện mạch hòa hoa đức,
Huệ Phát hiền cơ hội phước thiên.
Ngộ chỉ tùy thời ly vọng niệm,
Vô thường mãn nguyện tịch an nhiên.


Dịch thơ:

Ca Ngợi Công Hạnh Tôn Sư

Tôn sư Như Tín trải nhiều năm
Tinh tấn tu hành nguyện vững chăm
Trống tối chuông mai vun hạnh đẹp
Kinh khuya kệ tối kết thiền chân
Giới hương định tỉnh bày phương tiện
Pháp phái lưu truyền độ chúng nhân
Chúc Thánh thừa đương tông vững mạnh
Hưng Long thạch trụ tịnh nguồn tâm.

Nguồn tâm tỏa rạng pháp âm truyền
Một bát ba y Bát Nhã tuyên
Tổ ấn quang ngời về bản nguyện
Phật âm đạo mở hướng chơn viên
Huyền Trang mạch thiện hòa hoa đức
Huệ Phát cơ hiền hội phước thiên
Tỏ ngộ tuỳ thời lìa vọng niệm
Vô thường nguyện mãn tịch an nhiên..!

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật 

Nam mô Lâm Tế Tông, Chúc Thánh Pháp Phái Đệ Bát Thế, Trùng Kiến Hưng Long Tổ Đình Trụ Trì,
Húy thượng NHƯ hạ TÍN, Tự GIẢI TẤN, Hiệu HUỆ PHÁT Huỳnh Công Hòa thượng Giác Linh Tân Viên Tịch Thùy Từ Chứng Giám.

Tu Viện An Lạc, California, 1:30 sáng, 17 Tháng giêng, Bính Ngọ-2026
Hậu Học-Thích Chúc Hiền ( Khể thủ kính ghi)





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9848)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 9597)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 9273)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 10730)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 11365)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13920)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 9074)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 15111)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8806)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9302)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.