Tán Thán Công Hạnh Tôn Sư

05/03/202614:05(Xem: 755)
Tán Thán Công Hạnh Tôn Sư

ht nhu tin-4
讚歎功行尊師

尊師如信歷多年,
精進修行志願堅。
暮鼓晨鐘培妙行,
朝經夕偈結真禪。
戒香定靜開方便,
法派周流度有緣。
祝聖承當宗永振,
興隆石柱淨心源。
心源廣照義恩傳,
一鉢三衣般若宣。
祖印重光歸本願,
佛音啟道向真圓。
玄奘善脈和華德,
慧發賢機會福天。
悟旨隨時離妄念,
無常滿願寂安然

Tán Thán Công Hạnh Tôn Sư
-Thành kính hướng về Giác Linh Đường đảnh lễ tưởng niệm
Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Như hạ Tín, Kính nguyện Giáo Linh Hoà Thượng Cao Đăng Phật Quốc.
-Thành kính phân ưu cùng môn đồ pháp quyến.


Tôn sư Như Tín lịch đa niên,
Tinh tấn tu hành chí nguyện kiên.
Mộ cổ thần chung bồi diệu hạnh,
Triêu kinh tịch kệ kết chân thiền.

Giới hương định tĩnh khai phương tiện,
Pháp phái châu lưu độ hữu duyên.
Chúc Thánh thừa đương tông vĩnh chấn,
Hưng Long thạch trụ tịnh tâm nguyên.

Tâm nguyên quảng chiếu nghĩa ân truyền,
Nhất bát tam y Bát nhã tuyên.
Tổ ấn trùng quang quy bản nguyện,
Phật âm khải đạo hướng chân viên.

Huyền Trang thiện mạch hòa hoa đức,
Huệ Phát hiền cơ hội phước thiên.
Ngộ chỉ tùy thời ly vọng niệm,
Vô thường mãn nguyện tịch an nhiên.


Dịch thơ:

Ca Ngợi Công Hạnh Tôn Sư

Tôn sư Như Tín trải nhiều năm
Tinh tấn tu hành nguyện vững chăm
Trống tối chuông mai vun hạnh đẹp
Kinh khuya kệ tối kết thiền chân
Giới hương định tỉnh bày phương tiện
Pháp phái lưu truyền độ chúng nhân
Chúc Thánh thừa đương tông vững mạnh
Hưng Long thạch trụ tịnh nguồn tâm.

Nguồn tâm tỏa rạng pháp âm truyền
Một bát ba y Bát Nhã tuyên
Tổ ấn quang ngời về bản nguyện
Phật âm đạo mở hướng chơn viên
Huyền Trang mạch thiện hòa hoa đức
Huệ Phát cơ hiền hội phước thiên
Tỏ ngộ tuỳ thời lìa vọng niệm
Vô thường nguyện mãn tịch an nhiên..!

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật 

Nam mô Lâm Tế Tông, Chúc Thánh Pháp Phái Đệ Bát Thế, Trùng Kiến Hưng Long Tổ Đình Trụ Trì,
Húy thượng NHƯ hạ TÍN, Tự GIẢI TẤN, Hiệu HUỆ PHÁT Huỳnh Công Hòa thượng Giác Linh Tân Viên Tịch Thùy Từ Chứng Giám.

Tu Viện An Lạc, California, 1:30 sáng, 17 Tháng giêng, Bính Ngọ-2026
Hậu Học-Thích Chúc Hiền ( Khể thủ kính ghi)





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 11008)
Đọc qua các Thiền sư Việt Nam từ xưa đến nay, chưa thấy một người nào đã chinh phục được các hàng vương tôn, quý tộc, khiến cho họ tín nhiệm, quy y và ủng hộ hết mình như Thiền sư Pháp Loa. Sư là một con người tích cực hoạt động, suốt đời tận tụy phục vụ đạo pháp cho đến hơi thở cuối cùng. Điều đặc biệt quan tâm của Sư là ấn hành Đại Tạng kinh, do đó đã đề xuất, tiến hành và in xong bộ Đại Tạng kinh Việt Nam. Ngoài ra, Sư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thống nhất Phật giáo, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam, và Sư là người thứ nhất đúng ra thiết lập sổ bộ Tăng, Ni và tự viện trên khắp cả nước.
09/04/2013(Xem: 9519)
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan Hành khiển dưới triều Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên.
09/04/2013(Xem: 8704)
Truyền thống Phật giáo Việt Nam từ truớc đến nay vốn thiên về Phật giáo Phát triển hay Đại thừa; mãi đến năm 1959 lần đầu tiên bộ kinh Trường A Hàm do Hòa thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch được xuất bản thì Phật giáo Nguyên thủy mới được các Phật tử chú ý đến. Mặc dù bộ kinh này nằm trong Hán tạng thuộc hệ thống Phật giáo Phát triển, nhưng tinh thần của nó thì tương quan mật thiết với 5 bộ Nikàya trong giáo lý Nguyên thủy.
09/04/2013(Xem: 8453)
Phương Tây có câu tục ngữ "Hoạn nạn làm lớn con người". Phương Đông cũng có câu danh ngôn tương tự "Ngậm cay đắng trong cay đắng mới làm con người trên loài Người". Trường hợp của Trần Thái Tông sao mà ứng với hai câu này đến thế?
09/04/2013(Xem: 8882)
Hòa thượng Thích Thiện Châu Nguyên Đạo (Đọc tại buổi lễ tưởng niệm và lễ Trà Tỳ Hòa thượng Thích Thiện Châu) Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1931 tức ngày 7 tháng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần.
09/04/2013(Xem: 35962)
Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn Văn Hương và cụ Trần Thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ 10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái.
09/04/2013(Xem: 10367)
Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, thế danh Vũ Văn Khang, sinh ngày 23/12/1921 (Tân Dậu), tại làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Cụ Ông Vũ Đức Khanh, thân mẫu là Cụ Bà Đỗ Thị Thinh. Hoà thượng có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái. Ngài là con thứ 4 trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 8395)
Lý Càn Đức (Bính Ngọ 1066 - Mậu Thân 1128) là vua thứ 4 nhà Lý, con trai duy nhất của vua Lý Thánh Tông và Ỷ Lan phu nhân tức Linh Nhân hoàng hậu. Càn Đức sinh ra ở Cung Động Tiên, gác Du Thiềm (gác thưởng Trăng) vào tháng Giêng năm Bính Ngọ, niên hiệu Chương Thánh năm thứ 8 (23-2-1066), hồi vua Thánh Tông đã ngoài 40 tuổi. Một ngày sau ngày sinh thì được lập làm Thái tử, 6 tuổi vua cha mất, được tôn làm vua, tức vua Lý Nhân Tông. Vua có tướng hảo, tâm hiền, bản chất thông minh dũng lược.
09/04/2013(Xem: 9251)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con người và sự nghiệp Lý Công Uẩn. Giá trị lịch sử của một con người không chỉ ảnh hưởng đến tự thân mà dư âm giá trị lịch sử của con người đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến muôn người khác từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và quả thật, Vạn Hạnh Thiền sư là người có công rất lớn trong việc khai sáng ra triều đại nhà Lý thì Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên thực thi tinh thần Vạn Hạnh bằng tất cả sự thể nhập "Đạo Pháp - Dân tộc" trong một thực thể duy nhất.
09/04/2013(Xem: 16948)
Có lần trong tù, đói quá, Thầy Quảng Độ nằm mơ thấy được nhà bếp cho một cái bánh bao. Ăn xong thấy bụng căng thẳng, no nê, rất hạnh phúc. Sự thật là đêm ấy, trước khi đi ngủ, vì đói quá nên thấy uống nước cho đầy bụng dễ ngủ. Và Thầy đã đái dầm ra quần. Sáng hôm đó Thầy có làm một bài thơ.