Phù Hoa (Thành kính tưởng niệm Trưởng lão Hòa thượng THÍCH PHƯỚC AN, Tăng trưởng Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất)

10/02/202619:43(Xem: 435)
Phù Hoa (Thành kính tưởng niệm Trưởng lão Hòa thượng THÍCH PHƯỚC AN, Tăng trưởng Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất)

ht phuoc an-1
le nhap liem-on phuoc an (2)on phuoc an (6-) (5)


Phù Hoa

Thành kính tưởng niệm Trưởng lão Hòa thượng THÍCH PHƯỚC AN,
Tăng trưởng Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất

Phù hoa giữa chốn nhân gian.
Phủ sương thân tạm, hạc vàng về Tây.
Đồi trại Thuỷ, tiễn góc Thầy.
Hắt hiu gió thổi, Xuân này lạnh sương.


Viện Hải Đức, giữa tình trường.
Thầy an nhiên đứng, gió thường nhẹ bay.
Từ Bình Định, đến trời Tây,
Âm vang sóng biển, pháp Thầy vang xa.


Phù hoa, đất rộng thiên hà.
Kim Cang vững trí, giữa tà ngụy chân.
Phù hoa, gió lộng sóng tầng,
Kim Cang dưỡng đức, muôn phần giới hương.


Phước An tôn hiệu kiêm nhường,
Tàng kinh sách củ, mở đường kinh thư.
Phù hoa, ngàn kiếp phù du.
Phước An, lặng tiếng, chữ Tu một đời.


Phù Hoa trì trí sáng ngời,
Phước An trì luật, thấm lời Thế Tôn.
Phù hoa luận giảng kim ngôn,
Phước An mật tụng, báo Ân trọn tình.


Cà sa lưu trữ bóng hình,
Trên đồi trại thuỷ, ngước nhìn Phật tâm.
Giờ này, rũ bỏ huyễn thân,
Xuân qua đông lại, cõi trần phù hoa.


Xuân về tiễn góc Thiên hà,
Phật Quốc cõi tịnh, bảo toà trang nghiêm.
Tiễn Thầy nhiếp hoá cảnh thiền,
Pháp Tịch Tăng Trưởng, an nhiên mỉm cười…!



Trưởng lão Hòa thượng THÍCH PHƯỚC AN
Tăng trưởng Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.
Đã thu thần viên tịch vào lúc 11h50 ngày 09 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 22 tháng chạp năm Ất Tỵ)
trụ thế 79 năm, hạ lạp 57 năm.

Chúng con hàng hậu học, Tk Thích Minh Thế, có nhân duyên ghé thăm Đồi trại Thuỷ, nơi lưu dấu chấn tích Phật Học Viện Hải Đức- Nha Trang. Nơi Ôn Phước An lưu trú tu tập suốt ngần ấy thời gian.

Dù phong ba bão táp, dù nghịch cảnh vạn duyên, nhưng Ôn vẫn tự tại trong muôn kiếp phù hoa lãng nguyệt, vẫn tu tập trì tạng kinh luật luận, biện giải sắc ngôn, thọ kinh Kim Cang như gió ngàn hơi thở, trì Bát Nhã như gối tuệ Huyền không.

Ôn là vậy, nên chúng con đến vấn an sức khỏe Ôn vào dịp cuối Hạ vào năm: 2010- 2014, nhưng pháp vị của Ôn trao tặng trong thời gian ấy, chính là Kim Cang tự tánh, vững chắc như Ngài Đại trí Văn Thù.

Bạch Ôn, mùa hạ ấy Ôn có dạy con rằng:

“ Thầy Minh Thế, nên vận hành Kim Cang vào đời sống, xem phù hoa như bóng chớp thu qua, lấy giới làm trọng, lấy hành kim cang làm nhuỵ, lấy hạnh nguyện đi vào đời như chính Phật từng đi, ấy là hạnh nguyện của một vị thiền Tăng…!”

Rồi Ôn đọc vịnh mấy câu thơ:
“…..Xa xa sóng gió biển gầm.

Thấy ngàn giun dế, thương thầm thế nhân.
Bần Tăng lão núi thường dân,
Chiếc y cũ rách, giới thân vẫn còn….!”

Chúng con được hạnh phúc khi Ôn pha cho chúng con ngụm trà, rồi nghe Ôn kể về cuộc đời vinh nhục, Ôn cười tươi và buông nhẹ như chính bài Kinh Kim Cang mà Ôn thọ trì.

Rồi Ôn cho con mấy câu kệ như sau:

“Minh Thế Vạn Sự Thế
Giới Mật hạnh Kim Cang
Vững Trí Không Huyền Mộng
Thế Sự Diệp Y Ngàn…”

Kính bạch Ôn, trong ngần ấy thời gian, chúng con đi du hoá xứ Bắc, làm theo hạnh nguyện của Ôn trong tặng, chúng con đã tu tập như những gì Ôn trao.
Hôm nay, trong không khí cuối năm Ất Tỵ, chúng con nghe tin Ôn thu thần viên tịch, tâm tang của Ôn theo nguyện hạnh di chúc ấn thư. Chúng con ngồi yên để hướng về chùa Hải Đức- Nha Trang. Vọng niệm thành tâm đảnh lễ giác linh Ôn.

Chúng con thành tâm cung tiễn…!

Viết tại phòng thiền thất Hỷ Tịnh- Hà Nội.
Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/11/2010(Xem: 10396)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11137)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10505)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 15159)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 46536)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 9878)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8314)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8499)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8352)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8290)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự