Thầy ung dung dạo bước …! (kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Thích Đức Nghi)

28/06/202417:03(Xem: 4073)
Thầy ung dung dạo bước …! (kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Thích Đức Nghi)



ht duc nghi-00ht duc nghi-000ht duc nghi-0000ht duc nghi-0000-ht duc nghi-0000-2
Thầy ung dung dạo bước …!


Cung trời cũ, Thầy ung dung dạo bước,
Chốn Hồng Trần, xin tạm gác niềm thương.
Như Huyền nhiệm, đến đi trong tự tại.
Diệt tang bồng, soi ảnh độ Tây phương.


Thầy lặng lẽ, như hành thâm đại nguyện.
Pháp Đại Bi, mật trú dạ Huân tu.
Trong thiền thất, Thầy an nhiên thiền tọa.
Thở và cười, chốn Bát Nhã Chơn như.


Bẩy Tám năm, Thầy thác sanh độ mộng,
Năm mốt mùa, giữ nét đẹp thiền gia.
Từ Bình định, nuôi mầm sen chí hạnh.
Khoác lên mình, pháp giới học ca sa.


Chốn Hải Đức, trao tình thương Kinh Luật,
Bút nghiêm trì, trong luận Tạng tàng thư.
Được Thầy bạn, vun bồi thêm khí mạch.
Chợt giấc mơ, xin nguyện trải tâm từ.


Bao sóng biển, chập trùng theo con nước.
Ngộ nhân duyên, xin tái thỉnh thời gian.
Như yếu chỉ, nhận lãng Tam pháp ấn.
Chọn Lâm viên, tìm mạch tuệ thênh thang.


Nương bốn chúng, Đại Tăng xin ấn chỉ,
Lấy luật nghi, như pháp hạnh tu thân.
Gieo phúc Đức, cho ngàn hoa trổ nhánh.
Chọn Bảo Lộc, tiếp đồ chúng Tăng Nhân.


Gậy thiền trượng, Chúc Thánh từ đây hiện.
Hiệu Đức Nghi, tiếp Nối mạch Chữ Đồng.
“An Lạc “Tự, giữa thiền môn chấn tỉnh.
Độ nhân sinh, hiểu Chánh pháp dung thông.


Thuyền Bát Nhã, dụng Từ bi tâm pháp,
Trải nghìn tay, mở thiền thất Đạo tràng.
Viện “Bát Nhã”, như dấu chân Chánh niệm.
Tự Không Nghi, giữ mạch pháp y vàng.


Bao đồ chúng, Tăng - Ni đều có đủ.
Cận sự Nam, như Thiện Nữ hộ trì.
Mở “Kim Cang”, “Di Đà”- “Niết Bàn” lộ.
Dụng “Hoa Nghiêm”, học Đồng Tử uy nghi.


Học “Pháp Hoa”, noi gương “Văn Thù” đỉnh.
“Tân lạc” Thiền, như hạnh độ “Quan Âm”.
“Phổ Hiền” Độ, chứng minh ngôi Viện Chủ.
Chùa “Trà”mạch, nguồn suối mạch ân thâm.


Trăm đồ chúng, nhiếp thâu lời chỉ dạy.
Rạng thiền thư, nơi chốn Tổ Thắng Quang.
Nuôi chí lớn, bủa khắp trời Nam Việt.
Tận trời Tây, nối mạch pháp thời gian.


Thầy Là vậy, tự do trong pháp học,
Úp mặt vào, từng kinh nghiệm trang kinh.
Sống tự tại, giữa Huân tu mùa hạ.
Trao pháp hành, cho Tứ chúng giữ gìn.


Thầy là vậy, tử sanh như pháp học.
Học vô thường, không vướng bận chi tâm.
Xin một lần, đến đi trong Như Thị.
Sống thanh bần, giản dị thật Uyên thâm.


Thầy xả huyễn, nguyện Thầy nay thành tựu.
Không vướng thân, hay khổ khổ hoại thân.
Mà nhất niệm, hiện tiền Di đà Niệm.
Chốn Tây Phương, Chánh niệm vững thêm gần.


Hàng tứ chúng, ngậm ngùi xin chào tiễn.
Ngộ tương Phùng, tri kỷ giữa mùa Xuân.
Đức Nghi hạnh, tự do bên Tịnh Độ.
Tiễn biệt Thầy, một kiếp hoá Độ Nhân.




ht duc nghi-00-2
ht duc nghi-11ht duc nghi-12ht duc nghi-2ht duc nghi-3ht duc nghi-4ht duc nghi-5ht duc nghi-6ht duc nghi-7ht duc nghi-8ht duc nghi-9

Nhân duyên:

Đệ tử chúng con thành tâm bái biệt giác linh Trưởng lão Hoà Thượng Viện Chủ Tu Viện An Lạc Tổ Đình, Đạo Hiệu thượng Đức hạ Nghi, ngài là vị tôn túc lớn tại thành phố Bảo Lộc, có giới Đức trang nghiêm, và khai Sơn những ngôi bảo tự lớn như: Tu Viện Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Chùa Trà, Di Đà, Kim Cang, Văn Thù, Niết Bàn, Phổ Hiền, Pháp Hoa, Tân Lạc, Quan Âm….! Với cương vị Viện Chủ qua các tự viện mà ngài đích thân khai Sơn, và truyền lại cho các hàng Đệ tử, với công hạnh nuôi dưỡng đồ chúng với con số gần 100, có đủ hai bản nguyện đó là: Nhiếp hoá độ người qua bờ giác, khai hoá vùng đất xưa mở ra pháp hội đạo tràng, ngài thật xứng danh: “ Gậy Thiền Thích Tử “….!

Hôm nay, chúng con nhớ lại lời dạy xưa, khi được diện kiến ngài tại Chùa Hà- Nam Đàn Nghệ An, với lời dạy đơn sơ mà giản dị Ngài dạy rằng: “ Dù đường đi gian khó, nhưng vẫn trì đại bi tâm, dụng công phu tu tập nuôi pháp hạnh Di Đà, lấy Giới làm thể, lấy nguyện biến Thiên Thủ Quán âm!”

Ngài dạy thêm rằng: “ Thầy Minh Thế, cố gắng lên trong pháp tu Trì Đại Bi thiên thủ, nhớ đó mà về bản sở bảo Hoài chư Phật, lấy giới dụng giới, lấy nguyện dụng nguyện, lấy pháp thắng pháp, lấy tâm dụng Từ bi hỷ xả, mới là gốc rễ nuôi dưỡng Bát Chánh Đạo”

Hạnh phúc thay, chúng con được học và hành như pháp học ngài trao, rồi chúng con có duyên được thâm tình với những vị học trò của Ngài: Thượng Toạ Thích Thông Đức- Houston- Mỹ Quốc, Thượng Toạ Thích Đồng Niệm- Thắng Quang Tổ Đình…, cùng quý thầy Thích Đồng Tịnh, Thích Đồng Tuệ, Thích Đồng Hiếu, Thích Đồng Hoàng, Thích Nghiêm Thuận, Thích Đồng Ấn, và một số huynh đệ khác cũng là hàng con cháu của Ngài.

Giờ này chúng con kính phân ưu tới chư Tôn túc trong môn phong Tổ Đình An Lạc, và chư vị pháp lữ đồng tu, nhất tâm cầu nguyện cho giác linh Ngài: Thượng Đăng Bảo Đài, Liên Thuỳ Tịnh Cảnh”…!

Thành tâm bái biệt Ngài.

Mùa Tịnh Hạ An Cư-2568

Viết tại Tu Viện Bát Nhã- Bảo Lộc- Lâm Đồng, nhân lễ thỉnh Nhục thân ngài nhập kim quan. Lúc 14 giờ 10 phút, -ngày 20-05-Giáp Thìn, nhằm ngày 25-06-2024

Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/06/2011(Xem: 7887)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9180)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9218)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18538)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 18467)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9491)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 27514)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 12781)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.
25/05/2011(Xem: 7238)
Đại lão Hòa Thượng Thích Đồng Huy HT. Thích Đồng Huy - Thành viên HĐCM, Ủy viên HĐTSTW GHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trưởng ban Quản trị Đại Tòng Lâm, Viện chủ Tu viện Vạn Hạnh.
05/05/2011(Xem: 7514)
Từ hôm hay tin Thầy lâm bịnh và tiếng nói yếu ớt của Thầy qua điện thoại làm con rất lo. Nhiều năm qua con cố gắng về thăm Thầy một lần nhưng ước vọng đơn sơ ấy đã không toại nguyện. Hơn hai mươi năm con xa Thầy, xa Tu viện, xa đồi núi thương yêu thưở nào. Mai này nếu được về thăm thì thầy đã ra đi biền biệt.