Nghi Thức Lễ Phật (do HT Thích Thiện Châu biên soạn, Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202308:04(Xem: 4216)
Nghi Thức Lễ Phật (do HT Thích Thiện Châu biên soạn, Phật tử Diệu Danh diễn đọc)


nghi thuc le phat-thich thien chau
NGHI THỨC LỄ PHẬT 
TRÚC LÂM
HT Thích Thiện Châu biên soạn
Phật tử Diệu Danh diễn đọc




 

Dâng hương

O O O

 

Nguyện đem lòng thành kính

Gửi theo vầng mây hương

Phưởng phất khắp mười phương

Cúng dường ba ngôi báu

Thề trọn đời sống đạo

Cùng tất cả chúng sanh

Như chính pháp tu hành

Phật từ bi gia hộ

Tâm bồ đề kiên cố

Xa biển khổ nguồn mê

Chóng qua về bờ giác.  O O O

 

Lễ Phật

 

Đức Thế Tôn cao cả,

Ba cõi chẳng ai bằng,

Thầy dạy khắp trời, người,

Cha lành của bốn loại,

Trong một niệm quy y,

Dứt sạch nghiệp ba kỳ,

Ca ngợi và tán thán,

Ức kiếp không cùng tận. O

 

Chí tâm kính lễ Phật Pháp Tăng trong quá khứ, hiện tại, vị lai ở khắp mười phương. O (1 lạy)

 

Chí tâm kính lễ Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Ta bà, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát Đại Hạnh Phổ Hiền và hết thảy thánh hiền trong pháp hội. O (1 lạy)

 

Chí tâm kính lễ Phật Di Lặc sẽ giáng sinh và hết thảy Bồ tát thanh tịnh. O (1 lạy)

 

 

TÁN THÁN PHẬT

Vadanâ

 

Chủ lễ đọc trước ; đại chúng đọc sau

 

Kính lễ đức Thế Tôn, Ngài là bậc giải thoát, giác ngộ hoàn toàn. O (3lần)

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammâ Sambuddhassa.

 

BA QUY Y

Tisarana

 

Con xin quy y Phật

Con xin quy y Pháp

     Con xin quy y Tăng. O

 Buddham saranam gacchâmi

 Dhamman saranam gacchâmi

    Sangham saranam gacchâmi. O

 

Lần thứ hai con xin quy  Phật

   Lần thứ hai con xin quy y Pháp

        Lần thứ hai con xin quy y Tăng. O

Dutiyampi Buddham saranam gacchâmi

 Dutiyampi Dhammam saranam gacchâmi

     Dutiyampi Sangham saranam Gacchâmi. O

 

Lần thứ ba con xin quy y Phật

Lần thứ ba con xin quy y Pháp

      Lần thứ ba con xin quy y Tăng. O

Tatiyampi Buddham saranam gacchâmi

Tatiyampi Dhammam saranam gacchâmi

Tatiyampi Sangham saranam gacchâmi. O

 

 

NĂM GIỚI

Pancasila

 

Chủ lễ đọc trước ; đại chúng đọc sau

 

Con nguyện giữ giới không sát hại

Pânâtipâtâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không trộm cướp

Adinnâdânâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

 Con nguyện giữ giới không tà hạnh

 Kâmesu micchâcârâ veramani sikkâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không dối trá

Musâvâdâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không say rượu

Surâ-meraya-majja-pamâdatthânâ veramani sikkhâpa-dam sâmdiyâmi

                                                  O O O

 

 

CẦU NGUYỆN

 Mọi người cùng quỳ, chủ lễ đọc :

 

Nam mô Thập phương thường trụ Tam bảo.

Giờ đây, chúng con chân thành kính lễ các Đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán thường trú trong mười phương ; chúng con nhất tâm đọc tụng kinh điển nhiệm mầu của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con nguyện noi theo chính pháp, tu dưỡng thân tâm, làm điều phước thiện và hướng về giác ngộ giải thoát. O

Ngưỡng mong các đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán từ bi hộ niệm cho chúng con : phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu trừ, xa lìa khổ nạn, thân tâm thường được an lành, tâm bồ đề ngày càng kiên cố, hạnh nguyện giác ngộ cho mình và cho người đuề được trọn vẹn, để cùng tất cả chúng sinh chứng đạt chính đẳng chính giác.O

Ngưỡng mong đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật từ bi chứng minh, hộ niệm. O

Ngưỡng mong các đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán thường trú trong mười phương từ bi chứng minh, hộ niệm. O

 

Nếu thuận tiện thì cử tán một bài tán hương.

Nếu không thì cử chuông mõ đại chúng đồng tụng.

 

SÁM HỐI PHÁT NGUYỆN

 

Đệ tử kính lạy,

Đức Phật Thích Ca.

Giáo chủ Ta bà,

Mười phương chư Phật,

Vô thượng Phật Pháp,

Và Thánh Hiền Tăng.

Đệ tử lâu đời lâu kiếp,

Nghiệp chướng nặng nề,

Tham giận kiêu căng,

Si mê lầm lạc,

Ngày nay nhờ Phật,

Biết sự lỗi lầm,

Thành tâm sám hối. O

Thề tránh điều dữ,

Nguyện làm việc lành.

Ngưỡng mong ơn Phật,

Từ bi gia hộ,

Thân không tật bệnh,

Tâm không phiền não.

Hằng ngày an vui tu tập,

Phép Phật nhiệm mầu,

Để mau ra khỏi luân hồi,

Minh tâm kiến tính,

Trí tuệ sáng suốt,

Thần thông tự tại,

Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng,

Cha mẹ anh em,

Thân bằng quyền thuộc,

Cùng tất cả chúng sinh,

Đồng thành Phật đạo. O O O

 

KỆ KHAI KINH

 

Thăm thẳm cao siêu pháp nhiệm mầu

Trăm ngàn vạn kiếp dễ tìm đâu

Nay con nghe thấy xin trì tụng

Nguyện hiểu Như Lai nghĩa rộng sâu.

 

(Trên đây là phần khai kinh, quí Phật Tử muốn tụng kinh nào tùy theo sự cầu nguyện, tiếp theo đây là phần hồi hướng)

 

TÂM KINH ĐẠI TRÍ HUỆ SIÊU VIỆT

 

Bồ tát Quán tuệ tại, khi tu chứng đại trí tuệ siêu việt, thấy rõ năm uẩn đều không, vượt hết thả khổ ách.

Này Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác Sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

Xá Lợi Tử! Thể không của các pháp là không sinh, không diệt, không nhiễm, không sạch, không thêm, không bớt. Vì thế trong chân không, không có sắc thọ tưởng hành thức, Không nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý. Không sắc thanh hương vị xúc pháp. Không nhãn giới cho đến ý thức giới. Không vô minh, cũng không hết vô minh; cho đến không già chết, cũng không hết già chết: Không khổ, tập, diệt, đạo, không quán trí, cũng không chứng đạt, vì không gì để chứng.

Bồ tát nương trí tuệ siêu việt nên tâm không vướng ngại; vì không vướng ngại nên không sợ hãi, xa lìa hết thảy điên đảo mộng tưởng, rốt ráo đạt đến Niết Bàn. Chư Phật ba đời nương trí tuệ siêu việt nên được giác ngộ hoàn toàn, chân chính và cao nhất.

Vì thế nên biết rằng trí tuệ siêu việt là sức lớn, sức sáng, sức cao nhất, sức không gì bằng, hay trừ hết thảy khổ đau, chân thật không sai. Cho nên từ trí tuệ  siêu việt rút ra tinh yếu như vầy:

Giải thoát, giải thoát, đã giải thoát, đã cùng giải thoát, giác ngộ hoàn toàn.

 

BỐN NGUYỆN LỚN

 

Chúng sanh không số lượng, thề nguyện đề độ khắp

Phiền não không cùng tận, thề nguyện đều dứt sạch.

       Pháp môn không kể xiết, thề nguyện đều tu học.

       Phật đạo không gì hơn, thề nguyện được trọn thành. O

 

BA TỰ QUY Y

 

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh hiểu rõ đạo lớn, phát tâm vô thượng. O (1 lạy)

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh vào sâu kinh tạng, trí tuệ như biển. O  ( 1 lạy)

Tự quy  Tăng, xin nguyện chúng sinh thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. O  (1 lạy)

 

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

 

Nguyện đem công đức này,

  Hướng về khắp tất cả,

   Đệ tử và chúng sinh,

   Đều trọn thành Phật đạo.

 

O O O

 

Chú thích: O = tiếng chuông

Sau phần tụng niệm nên ngồi thiền theo phương pháp Quán niệm hơi thở vào và hơi thở ra (Anâpânasati)

 

PHƯƠNG PHÁP QUÁN NIỆM

HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA

 

Phương pháp Quán niệm hơi thở vào - hơi thở ra gồm 16 chủ đề quy vào 4 nhóm: I. Quán niệm về thân, II. Quán niệm về thọ, III. Quán niệm về tâm. IV. Quán niệm về Pháp. Do đó, thiền sinh nếu có thời giờ thì tuần tự tu tập theo 16 chủ đề. Nếu không, thì ít nhất tu tập 4 chủ đề đầu và chủ đề 3.

 

I- Bốn đề tài về Thân:

 

1-    Thở vô dài, tự biết: Tôi thở vô dài,

     Thở ra dài, tự biết: Tôi thở ra dài.

 

2-    Thở vô ngắn, tự biết: Tôi thở vô ngắn,

     Thở ra ngắn, tự biết: Tôi thở ra ngắn.

 

3-    Cảm giác toàn thân, tôi thở vô,

     Cảm giác toàn thân, tôi thở ra.

 

4-    An tịnh thân hành, tôi thở vô,

     An tịnh thân hành, tôi thở ra.

 

II- Bốn đề tài về Thọ:

 

5-    Cảm giác hỷ thọ, tôi thở vô,

     Cảm giác hỷ thọ, tôi thở ra.

 

6-    Cảm giác lạc thọ, tôi thở vô,

     Cảm giác lạc thọ, tôi thở ra.

 

7-    Cảm giác tâm hành, tôi thở vô,

     Cảm giác tâm hành, tôi thở ra.

 

8-    An tịnh tâm hành, tôi thở vô,

     An tịnh tâm hành, tôi thở ra.

 

III- Bốn đề tài về Tâm:

 

9-    Cảm giác về tâm, tôi thở vô,

     Cảm giác về tâm, tôi thở ra.

10   -Với tâm hân hoan, tôi thở vô,

  Với tâm hân hoan, tôi thở ra.

 

11   -Với tâm định tĩnh, tôi thở vô,

 Với tâm định tĩnh, tôi thở ra.

 

12   - Với tâm giải thoát, tôi thở vô,

  Với tâm giải thoát, tôi thở ra.

 

IV- Bốn đề tài về Pháp:

 

13   - Quán vô thường, tôi thở vô,

   Quán vô thường, tôi thở ra.

 

14   - Quán ly tham, tôi thở vô,

  Quán ly tham, tôi thở ra.

 

15- Quán đoạn diệt, tôi thở vô,

 Quán đoạn diệt, tôi thở ra.

 

16- Quán từ bỏ, tôi thở vô,

      Quán từ bỏ, tôi thở ra.

 

Đặc điểm của phương pháp này là: nhóm I đưa đến tĩnh chỉ (samatha), nhóm II đưa vào ngưỡng cửa của minh sát, nhóm III phát triển minh sát. Nhóm IV thành tựu tuệ quán (vipassana)

 

 

 buddha-5

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/06/2012(Xem: 18008)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 17743)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 10646)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 24629)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 8911)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12060)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9008)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1
26/04/2012(Xem: 24034)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức
20/04/2012(Xem: 12877)
Hòa thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4 anh em. Ngài xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền thống kính tin Phật pháp lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền môn với tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước phụ thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm đệ tử của Hòa thượng Phước Hậu, được Bổn sư ban pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác, học tập thiền môn qui tắc, hầu cận sư trưởng. Năm Tân Tỵ 1941, khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại giới đàn chùa Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng Đắc Quang làm Đường đầu truyền giới.
08/04/2012(Xem: 8331)
Hòa thượng thế danh Đoàn Thảo, sinh ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909), niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 trong một gia đình nhiều đời theo Phật tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Đoàn Văn Nhơn pháp danh Chơn Quang, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Có. Gia đình Ngài gần chùa Vạn Đức, lại thêm cụ thân sinh là tín đồ thuần thành của chùa, nên từ thuở nhỏ, Ngài thường theo cha đến chùa hàng đêm tụng kinh niệm Phật. Từ đó, chủng tử Bồ Đề lớn dần trong tâm và Ngài tỏ ra những biểu hiện rất có căn duyên với cửa Không môn của nhà Phật.