Nghi Thức Lễ Phật (do HT Thích Thiện Châu biên soạn, Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202308:04(Xem: 4155)
Nghi Thức Lễ Phật (do HT Thích Thiện Châu biên soạn, Phật tử Diệu Danh diễn đọc)


nghi thuc le phat-thich thien chau
NGHI THỨC LỄ PHẬT 
TRÚC LÂM
HT Thích Thiện Châu biên soạn
Phật tử Diệu Danh diễn đọc




 

Dâng hương

O O O

 

Nguyện đem lòng thành kính

Gửi theo vầng mây hương

Phưởng phất khắp mười phương

Cúng dường ba ngôi báu

Thề trọn đời sống đạo

Cùng tất cả chúng sanh

Như chính pháp tu hành

Phật từ bi gia hộ

Tâm bồ đề kiên cố

Xa biển khổ nguồn mê

Chóng qua về bờ giác.  O O O

 

Lễ Phật

 

Đức Thế Tôn cao cả,

Ba cõi chẳng ai bằng,

Thầy dạy khắp trời, người,

Cha lành của bốn loại,

Trong một niệm quy y,

Dứt sạch nghiệp ba kỳ,

Ca ngợi và tán thán,

Ức kiếp không cùng tận. O

 

Chí tâm kính lễ Phật Pháp Tăng trong quá khứ, hiện tại, vị lai ở khắp mười phương. O (1 lạy)

 

Chí tâm kính lễ Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Ta bà, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát Đại Hạnh Phổ Hiền và hết thảy thánh hiền trong pháp hội. O (1 lạy)

 

Chí tâm kính lễ Phật Di Lặc sẽ giáng sinh và hết thảy Bồ tát thanh tịnh. O (1 lạy)

 

 

TÁN THÁN PHẬT

Vadanâ

 

Chủ lễ đọc trước ; đại chúng đọc sau

 

Kính lễ đức Thế Tôn, Ngài là bậc giải thoát, giác ngộ hoàn toàn. O (3lần)

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammâ Sambuddhassa.

 

BA QUY Y

Tisarana

 

Con xin quy y Phật

Con xin quy y Pháp

     Con xin quy y Tăng. O

 Buddham saranam gacchâmi

 Dhamman saranam gacchâmi

    Sangham saranam gacchâmi. O

 

Lần thứ hai con xin quy  Phật

   Lần thứ hai con xin quy y Pháp

        Lần thứ hai con xin quy y Tăng. O

Dutiyampi Buddham saranam gacchâmi

 Dutiyampi Dhammam saranam gacchâmi

     Dutiyampi Sangham saranam Gacchâmi. O

 

Lần thứ ba con xin quy y Phật

Lần thứ ba con xin quy y Pháp

      Lần thứ ba con xin quy y Tăng. O

Tatiyampi Buddham saranam gacchâmi

Tatiyampi Dhammam saranam gacchâmi

Tatiyampi Sangham saranam gacchâmi. O

 

 

NĂM GIỚI

Pancasila

 

Chủ lễ đọc trước ; đại chúng đọc sau

 

Con nguyện giữ giới không sát hại

Pânâtipâtâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không trộm cướp

Adinnâdânâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

 Con nguyện giữ giới không tà hạnh

 Kâmesu micchâcârâ veramani sikkâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không dối trá

Musâvâdâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không say rượu

Surâ-meraya-majja-pamâdatthânâ veramani sikkhâpa-dam sâmdiyâmi

                                                  O O O

 

 

CẦU NGUYỆN

 Mọi người cùng quỳ, chủ lễ đọc :

 

Nam mô Thập phương thường trụ Tam bảo.

Giờ đây, chúng con chân thành kính lễ các Đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán thường trú trong mười phương ; chúng con nhất tâm đọc tụng kinh điển nhiệm mầu của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con nguyện noi theo chính pháp, tu dưỡng thân tâm, làm điều phước thiện và hướng về giác ngộ giải thoát. O

Ngưỡng mong các đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán từ bi hộ niệm cho chúng con : phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu trừ, xa lìa khổ nạn, thân tâm thường được an lành, tâm bồ đề ngày càng kiên cố, hạnh nguyện giác ngộ cho mình và cho người đuề được trọn vẹn, để cùng tất cả chúng sinh chứng đạt chính đẳng chính giác.O

Ngưỡng mong đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật từ bi chứng minh, hộ niệm. O

Ngưỡng mong các đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán thường trú trong mười phương từ bi chứng minh, hộ niệm. O

 

Nếu thuận tiện thì cử tán một bài tán hương.

Nếu không thì cử chuông mõ đại chúng đồng tụng.

 

SÁM HỐI PHÁT NGUYỆN

 

Đệ tử kính lạy,

Đức Phật Thích Ca.

Giáo chủ Ta bà,

Mười phương chư Phật,

Vô thượng Phật Pháp,

Và Thánh Hiền Tăng.

Đệ tử lâu đời lâu kiếp,

Nghiệp chướng nặng nề,

Tham giận kiêu căng,

Si mê lầm lạc,

Ngày nay nhờ Phật,

Biết sự lỗi lầm,

Thành tâm sám hối. O

Thề tránh điều dữ,

Nguyện làm việc lành.

Ngưỡng mong ơn Phật,

Từ bi gia hộ,

Thân không tật bệnh,

Tâm không phiền não.

Hằng ngày an vui tu tập,

Phép Phật nhiệm mầu,

Để mau ra khỏi luân hồi,

Minh tâm kiến tính,

Trí tuệ sáng suốt,

Thần thông tự tại,

Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng,

Cha mẹ anh em,

Thân bằng quyền thuộc,

Cùng tất cả chúng sinh,

Đồng thành Phật đạo. O O O

 

KỆ KHAI KINH

 

Thăm thẳm cao siêu pháp nhiệm mầu

Trăm ngàn vạn kiếp dễ tìm đâu

Nay con nghe thấy xin trì tụng

Nguyện hiểu Như Lai nghĩa rộng sâu.

 

(Trên đây là phần khai kinh, quí Phật Tử muốn tụng kinh nào tùy theo sự cầu nguyện, tiếp theo đây là phần hồi hướng)

 

TÂM KINH ĐẠI TRÍ HUỆ SIÊU VIỆT

 

Bồ tát Quán tuệ tại, khi tu chứng đại trí tuệ siêu việt, thấy rõ năm uẩn đều không, vượt hết thả khổ ách.

Này Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác Sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

Xá Lợi Tử! Thể không của các pháp là không sinh, không diệt, không nhiễm, không sạch, không thêm, không bớt. Vì thế trong chân không, không có sắc thọ tưởng hành thức, Không nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý. Không sắc thanh hương vị xúc pháp. Không nhãn giới cho đến ý thức giới. Không vô minh, cũng không hết vô minh; cho đến không già chết, cũng không hết già chết: Không khổ, tập, diệt, đạo, không quán trí, cũng không chứng đạt, vì không gì để chứng.

Bồ tát nương trí tuệ siêu việt nên tâm không vướng ngại; vì không vướng ngại nên không sợ hãi, xa lìa hết thảy điên đảo mộng tưởng, rốt ráo đạt đến Niết Bàn. Chư Phật ba đời nương trí tuệ siêu việt nên được giác ngộ hoàn toàn, chân chính và cao nhất.

Vì thế nên biết rằng trí tuệ siêu việt là sức lớn, sức sáng, sức cao nhất, sức không gì bằng, hay trừ hết thảy khổ đau, chân thật không sai. Cho nên từ trí tuệ  siêu việt rút ra tinh yếu như vầy:

Giải thoát, giải thoát, đã giải thoát, đã cùng giải thoát, giác ngộ hoàn toàn.

 

BỐN NGUYỆN LỚN

 

Chúng sanh không số lượng, thề nguyện đề độ khắp

Phiền não không cùng tận, thề nguyện đều dứt sạch.

       Pháp môn không kể xiết, thề nguyện đều tu học.

       Phật đạo không gì hơn, thề nguyện được trọn thành. O

 

BA TỰ QUY Y

 

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh hiểu rõ đạo lớn, phát tâm vô thượng. O (1 lạy)

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh vào sâu kinh tạng, trí tuệ như biển. O  ( 1 lạy)

Tự quy  Tăng, xin nguyện chúng sinh thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. O  (1 lạy)

 

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

 

Nguyện đem công đức này,

  Hướng về khắp tất cả,

   Đệ tử và chúng sinh,

   Đều trọn thành Phật đạo.

 

O O O

 

Chú thích: O = tiếng chuông

Sau phần tụng niệm nên ngồi thiền theo phương pháp Quán niệm hơi thở vào và hơi thở ra (Anâpânasati)

 

PHƯƠNG PHÁP QUÁN NIỆM

HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA

 

Phương pháp Quán niệm hơi thở vào - hơi thở ra gồm 16 chủ đề quy vào 4 nhóm: I. Quán niệm về thân, II. Quán niệm về thọ, III. Quán niệm về tâm. IV. Quán niệm về Pháp. Do đó, thiền sinh nếu có thời giờ thì tuần tự tu tập theo 16 chủ đề. Nếu không, thì ít nhất tu tập 4 chủ đề đầu và chủ đề 3.

 

I- Bốn đề tài về Thân:

 

1-    Thở vô dài, tự biết: Tôi thở vô dài,

     Thở ra dài, tự biết: Tôi thở ra dài.

 

2-    Thở vô ngắn, tự biết: Tôi thở vô ngắn,

     Thở ra ngắn, tự biết: Tôi thở ra ngắn.

 

3-    Cảm giác toàn thân, tôi thở vô,

     Cảm giác toàn thân, tôi thở ra.

 

4-    An tịnh thân hành, tôi thở vô,

     An tịnh thân hành, tôi thở ra.

 

II- Bốn đề tài về Thọ:

 

5-    Cảm giác hỷ thọ, tôi thở vô,

     Cảm giác hỷ thọ, tôi thở ra.

 

6-    Cảm giác lạc thọ, tôi thở vô,

     Cảm giác lạc thọ, tôi thở ra.

 

7-    Cảm giác tâm hành, tôi thở vô,

     Cảm giác tâm hành, tôi thở ra.

 

8-    An tịnh tâm hành, tôi thở vô,

     An tịnh tâm hành, tôi thở ra.

 

III- Bốn đề tài về Tâm:

 

9-    Cảm giác về tâm, tôi thở vô,

     Cảm giác về tâm, tôi thở ra.

10   -Với tâm hân hoan, tôi thở vô,

  Với tâm hân hoan, tôi thở ra.

 

11   -Với tâm định tĩnh, tôi thở vô,

 Với tâm định tĩnh, tôi thở ra.

 

12   - Với tâm giải thoát, tôi thở vô,

  Với tâm giải thoát, tôi thở ra.

 

IV- Bốn đề tài về Pháp:

 

13   - Quán vô thường, tôi thở vô,

   Quán vô thường, tôi thở ra.

 

14   - Quán ly tham, tôi thở vô,

  Quán ly tham, tôi thở ra.

 

15- Quán đoạn diệt, tôi thở vô,

 Quán đoạn diệt, tôi thở ra.

 

16- Quán từ bỏ, tôi thở vô,

      Quán từ bỏ, tôi thở ra.

 

Đặc điểm của phương pháp này là: nhóm I đưa đến tĩnh chỉ (samatha), nhóm II đưa vào ngưỡng cửa của minh sát, nhóm III phát triển minh sát. Nhóm IV thành tựu tuệ quán (vipassana)

 

 

 buddha-5

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 9626)
Lễ Giỗ Tổ Nguyên Thiều tại Tu Viện Nguyên Thiều, Sydney, Úc Châu ngày thứ hai, 26-11-2007
10/04/2013(Xem: 11701)
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ (17-l0-1917), tại làng Mỹ An Hưng ( Cái Tàu Thượng) huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Thân phụ là ông Nguyễn văn Cân và thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Truyện. Cụ Ông qua đời lúc H.T lên ba, Cụ Bà cũng theo Ông lúc Ngài vừa lên bảy.
09/04/2013(Xem: 10291)
Nước ta từ sau ngày Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) vào trấn thủ đất Thuận Quảng, dần dần biến thành một vùng cai trị riêng cắt đứt liên hệ với vua Lê ở miền Bắc, lấy sông Danh làm ranh giới chia cắt Việt Nam thành hai mà sử gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài.
09/04/2013(Xem: 14153)
Hòa Thượng Pháp danh thượng Tâm hạ Ba, tự Nhựt Quang, hiệu Bửu Huệ thuộc đời 41 dòng Lâm Tế (chữ Nhựt) và đời 43 thuộc phái Thiên Thai (chữ Tâm). Húy danh: Nguyễn Văn Ba, sanh năm Giáp Dần (1941), tại Xã Tân Hương, huyện Bến Tranh, Tỉnh Ðịnh Tường (Nay là Tỉnh Tiền Giang). Thân phụ là Ông Ðặng Văn Cử, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Thu. Hòa Thượng theo họ mẹ, cũng là người con thứ ba trong gia đình gồm hai anh em.
09/04/2013(Xem: 10289)
Ôn Từ Đàm (Hòa thuọng Thích Thiện Siêu) với tôi vốn không có duyên nghĩa thầy trò; mặc dù, vào đầu thập niên 1960, Ôn là Giáo thọ tại Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang trong khi tôi là một học tăng ở đó. Những tháng năm này, tôi là nguòi được theo học trường Võ Tánh nên thời khóa sinh hoạt của tôi không bị câu thúc chặt chẽ; và vì vậy, ít có cơ hội gần gũi với các bậc thầy lớn như Ôn.
09/04/2013(Xem: 8548)
Trúc Lâm Đại sĩ là vua thứ tư nhà Trần, con của Thánh Tông, lên ngôi ngày 12 tháng 2 năm Mậu dần (1278). Trước khi Đại sĩ ra đời, Nguyên Thánh Hoàng Thái hậu nằm mộng thấy thần nhân đưa cho hai lưỡi kiếm bảo : "Có lệnh của Thượng giới, cho phép ngươi được chọn lấy". Bỗng nhiên được kiếm, Thái hậu bất giác rất vui, nhân đó có thai. Những tháng dưỡng thai, nhà bếp dâng thức gì Thái hậu cứ dùng như thường, chẳng cần kiêng cử mà thai cũng chẳng sao.
09/04/2013(Xem: 10551)
Đọc qua các Thiền sư Việt Nam từ xưa đến nay, chưa thấy một người nào đã chinh phục được các hàng vương tôn, quý tộc, khiến cho họ tín nhiệm, quy y và ủng hộ hết mình như Thiền sư Pháp Loa. Sư là một con người tích cực hoạt động, suốt đời tận tụy phục vụ đạo pháp cho đến hơi thở cuối cùng. Điều đặc biệt quan tâm của Sư là ấn hành Đại Tạng kinh, do đó đã đề xuất, tiến hành và in xong bộ Đại Tạng kinh Việt Nam. Ngoài ra, Sư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thống nhất Phật giáo, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam, và Sư là người thứ nhất đúng ra thiết lập sổ bộ Tăng, Ni và tự viện trên khắp cả nước.
09/04/2013(Xem: 9404)
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan Hành khiển dưới triều Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên.
09/04/2013(Xem: 8617)
Truyền thống Phật giáo Việt Nam từ truớc đến nay vốn thiên về Phật giáo Phát triển hay Đại thừa; mãi đến năm 1959 lần đầu tiên bộ kinh Trường A Hàm do Hòa thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch được xuất bản thì Phật giáo Nguyên thủy mới được các Phật tử chú ý đến. Mặc dù bộ kinh này nằm trong Hán tạng thuộc hệ thống Phật giáo Phát triển, nhưng tinh thần của nó thì tương quan mật thiết với 5 bộ Nikàya trong giáo lý Nguyên thủy.
09/04/2013(Xem: 8374)
Phương Tây có câu tục ngữ "Hoạn nạn làm lớn con người". Phương Đông cũng có câu danh ngôn tương tự "Ngậm cay đắng trong cay đắng mới làm con người trên loài Người". Trường hợp của Trần Thái Tông sao mà ứng với hai câu này đến thế?