Lời Phật Dạy (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202307:57(Xem: 3974)
Lời Phật Dạy (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

Phat thuyet phap

LỜI PHẬT DẠY
 HT. Thích Thiện Châu giảng giải
Phật tử Diệu Danh diễn đọc




 

I- KINH PHẬT VÀ KINH TỔ

 

"Thuở xưa, này các Tỳ Kheo, dân chúng Dâssârahâ có một cái trống, tên là Anaka. Khi cái trống Anaka bắt đầu nứt ra, dân chúng Dâssârahâ đóng vào một cái chốt khác. Cho đến một thời gian này các Tỳ Kheo, cả các thùng ván của Anaka biến mất và chỉ còn lại những cái chốt tụ hợp lại. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, những vị Tỳ Kheo sẽ thành trong tương lai."

          Những bài kinh nào do Như Lai thuyết thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến Không, chúng sẽ không nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng. Chúng sẽ không lóng tai, chúng sẽ không an trú tâm chánh trí, và chúng sẽ không nghĩ rằng: các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo. Còn những bài kinh nào do các thi sĩ làm ra, những bài thơ với những danh từ hoa mỹ, với những cây văn hoa mỹ, thuộc ngoại điển, do các đệ tử thuyết giảng, chúng sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng. Chúng sẽ lóng tai, chúng sẽ an trú tâm chánh trí và chúng sẽ nghĩ rằng: các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo. Như vậy các kinh do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến Không, sẽ đi đến tiêu diệt (Tương Ưng Bộ II, 255)

 

          2- CHÁNH PHÁP VÀ TƯỢNG PHÁP

 

          - "Này Kassapa, Chánh pháp không biến mất, cho đến khi nào Tượng pháp không hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào tượng pháp không hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời chánh pháp biến mất" (Tương Ưng Bộ, II, 212)

 

          3-  PHÂN BIỆT CHÁNH PHÁP VÀ TƯỢNG PHÁP

 

          -  "Này Upàli, những pháp nào mà ngươi biết không đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn, thời này Upàli, phải nhất hướng thọ trì là không phải pháp, không phải luật, không phải lời dạy Thế Tôn. Và này Upàli, những pháp nào nhà ngươi biết đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn, thời này Upàli, phải nhất hướng thọ trì là pháp, là luận, là lời dạy Thế Tôn"

(Tăng Chi IV, 117)

          -  "Này Gotami, những pháp nào người biết đưa đến tham dục (sârâgâ), không phải ly tham; đưa đến hệ phược; không đưa đến ly hệ; đưa đến tích tập; đưa đến dục lớn không đưa đến ít dục; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến tụ hội; không đưa đến nhàn tịnh; đưa đến biếng nhác; không đưa đến tinh tấn; đưa đến khó nuôi dưỡng; không đưa đến để nuôi dưỡng (sutharatàya). Này Gotami, hãy thọ trì nhất hướng rằng: "Đó không phải là pháp; đó không phải là luật; đó không phải là lời dạy của Đạo Sư".

          Và này Gomati, những pháp nào mà ngươi biết đưa đến ly tham, không đưa đến tham dục; đưa đến hệ phược, đưa đến không tích tập; không đưa đến tích tập, đưa đến dục ít, không đưa đến dục lớn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến nhàn tịnh, không đưa đến tụ hội; đưa đến tinh tấn, không đưa đến biếng nhác; đưa đến để lấy nuôi dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng. Này Gotami hãy thọ trì nhất hướng rằng: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư" (Tăng Chi Bộ IV, 219)

          Các lời Phật dạy trên trích trong các bản dịch của HT Thích Minh Châu. Số trang theo bộ cũ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/01/2013(Xem: 8482)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9637)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9929)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 15169)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:
01/10/2012(Xem: 8118)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...
22/09/2012(Xem: 9777)
Ni sư Thích Nữ Như Phụng nguyên là viện chủ chùa Long Vân , sinh tiền Ni sư là cố vấn ni chúng chùa Long Vân , làm Hóa chủ trường hạ trong 6 năm , trưởng phòng châm cứu từ thiện của chùa,thành viên mặt trận tổ quốc xã Tam Phước , trưởng bếp cơm từ thiện Bệnh viện đa khoa Long Thành. Suốt cả cuộc đời ni sư tận tụy cho sự nghiệp tu hành và hoằng dương Đạo pháp , một lòng chuyên tâm Niệm Phật A Di Đà , công quả viên mãn Ni sư an nhiên tự tại vãng sanh trong lúc đứng Niệm Phật cùng đại chúng trên Đại hùng bảo điện không gian tràn ngập hương cúng dường thanh tịnh .Sau khi làm lễ trà tì ngài để lại rất nhiều xá lợi minh chứng cho công đức tu hành tinh nghiêm của một vị cao ni.
21/09/2012(Xem: 13458)
Phật hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.
20/09/2012(Xem: 7645)
Sáng nay con về lại Vạn Hạnh, không phải đi học, không phải nộp bài thi, không phải đi đảnh lễ,... mà để đi tiễn Ôn về với Phật. Con hòa mình vào dòng người tấp nập trên giao lộ Nguyễn Kiệm trong buổi sớm bình minh. Một ngày như mọi ngày nhưng cảnh vật hôm nay không còn bình yên nữa. Cây cỏ úa màu, hoa buồn ủ rũ. Mọi người tất bật, nôn nao bước nhanh về cổng chùa Vạn Hạnh, như sợ chậm chân sẽ không còn chỗ cho mình cung tiễn Thầy đi.
08/09/2012(Xem: 10257)
Với Hòa thượng Minh Châu, một đại sư đã ra đi. Một đại sư cỡ ấy, thế hệ chúng ta chỉ có vài vị. Vài vị, nhưng là những ngọn đuốc soi sáng đường đi cho cả một nửa thế kỷ. Hôm nay, ngọn đuốc gần như là cuối cùng ấy đã tắt. Đã tắt, để nói với chúng ta, như Phật đã nói khi nhập diệt: Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.
08/09/2012(Xem: 7954)
Tin Sư Ông ra-đi-về cõi bất sinh đã dệt nên những cơn bồi hồi, xúc động. Biết nói cái gì, và sẽ nói cái gì về một vầng ánh sáng chói lọi vừa lịm tắt? Càng cố nói về cái “rạng rỡ” thì càng trở nên vụng về! Nhưng vượt lên trên tất cả và vẫn còn hiện hữu nơi đây là tấm lòng tri ân sâu sắc đối với công trình dịch thuật Kinh tạng của Người. Lòng tri ân sâu thẳm đó vẫn âm ỉ trong tâm thức của những người từng có cơ duyên được học hỏi “triết lý giác ngộ”- một thứ triết lý nguyên thủyhàm chứa những kinh nghiệm chứng ngộ rất ngườicủa Đức Thế Tôn.