Nụ Cười Của Thầy (bài viết thành kính tưởng niệm Hòa Thượng Thích Đỗng Tuyên)

25/03/202208:56(Xem: 6169)
Nụ Cười Của Thầy (bài viết thành kính tưởng niệm Hòa Thượng Thích Đỗng Tuyên)

NỤ CƯỜI CỦA THẦY

Thích Nữ Giới Hương

 

Chúng tôi thường thân mật gọi Hòa thượng Thái Siêu là “Thầy”. Thầy có nụ cười rất hiền hòa và có hai hạt lúa nhỏ (không phải đồng tiền) nơi khoé miệng "lợi khẩu". Vì vậy, thầy giảng pháp rất lưu loát, ít cầm văn bản, thầy cứ nói huyên thuyên, dí dõm, khôi hài bất tận…cho đến khi chuông báo hết giờ thầy mới dừng buổi giảng của mình. Thính chúng, từ Hòa thượng đến chú sadini hành điệu hay nam nữ Phật tử, đều cười tán thưởng với những câu chuyện thầy chia sẻ.

 

on thai sieu (1)


Gặp ai thầy cũng nở nụ cười ân cần chào đón hỏi thăm sức khỏe và việc tu học. Thầy như hóa thân của một bà mẹ, một bồ tát với nữ tính hiền dịu. Ít khi thấy thầy sân giận hay rộn ràng, thầy luôn thong thả nói cười. Trong khoảng thời gian du học tại Ấn Độ, sau những buổi tụng giới ở Chùa Tây Tạng, Delhi, Tăng ni sinh chúng tôi thường được cùng dùng cơm trưa với thầy, quây quần bên thầy, sân chùa luôn vang tiếng cười khi nghe thầy kể chuyện hành điệu ở chốn già lam.

 

Thầy thường cười hỉ xả, gần gủi với lớp trẻ tuổi chúng tôi. Với thầy, tất cả đều đồng đẳng, không có thấp cao như Đức Phật dạy trong kinh Pháp Hoa “Tánh Phật bình đẳng giữa các chúng sanh.” Tuy Thầy là giảng sư dạy Cao Cấp Phật học môn Pali, thầy buông bỏ bản ngã của mình, thầy cầu học và không ngại qua trường đại học Delhi để cùng học một lớp với nhóm học trò nhỏ của mình và cùng nhau tốt nghiệp.  Nụ cười của thầy đã thể hiện tính đồng đẳng, xóa tan bức tường cao thấp của giới nghi.

 

Thầy mang theo nụ cười đó đến Hoa Kỳ. Thầy giảng dạy, hoằng pháp cho tăng ni và Phật tử. Thầy không bận tâm đến việc xây chùa tô tượng đúc chuông, tạo cơ ngơi vật chất cho chính mình. Nơi nào hữu duyên mời thầy, thầy sẽ về làm cố vấn tinh thần giảng dạy. Nơi nào hết duyên thì thầy đi. Thầy miệt mài trong sứ mạng đào tạo tăng ni “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người.” Vẫn là viên phấn viết bảng, vẫn là cây bút miệt mài chấm điểm trên trang giấy… Thầy liên tiếp mở các khóa tu, khóa an cư, truyền dạy giáo lý Phật pháp cho tăng ni, tạo ra năng lượng và sức sống mới cho tăng ni trẻ đủ giới đức và khả năng hoàn thành sứ mạng Như Lai Sứ Giả tại Hoa Kỳ này.

 

Kính lạy Thầy, người thừa chí cả

Thay Thế Tôn truyền bá đạo mầu

Tùy duyên hóa độ vô cầu

Làm Thầy mô phạm dẫn đầu chúng sanh.

 

Chùa Hương Sen, ngày 24 tháng 03 năm 2022

Đảnh lễ kính ghi,

Hậu học TN Giới Hương

 

MỘT VÀI HÌNH ẢNH THÂN THƯƠNG

 

 

 on thai sieu (2)

Photo 1: Thầy chấm điểm và phát quà cho lớp “Sứ Giả Như Lai”
tại Niệm Phật đường Fremont, San Jose, California
  Từ phải sang trái:
 Hàng 1:  Thầy Minh Thông, Thầy Minh Chánh, Thượng Tọa Minh Chí
(Trụ trì Phật Học Viện Quốc Tế), Sư cô Giới Hương, Sư cô Diệu Tịnh và Sư cô Huệ Tâm
Hàng 2:  Thầy Thái Siêu, Hòa thượng Thông Hải và Ni sư Trung Thiện 




on thai sieu (3)

 

Photo 2: Thầy đang trao quà thưởng cho Sư cô Giới Hương và các thuyết trình viên

 

 

 

on thai sieu (4)

 

Photo 3: Toàn khóa Như Lai Sứ Giả



Những hình ảnh khác
on thai sieu (5)on thai sieu (6)on thai sieu (7)on thai sieu (8)on thai sieu (9)on thai sieu (10)on thai sieu (11)on thai sieu (12)on thai sieu (13)on thai sieu (14)

***

facebook
youtube

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10314)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10108)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12887)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8725)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14768)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8459)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8940)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10128)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8813)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14487)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.