Nụ Cười Của Thầy (bài viết thành kính tưởng niệm Hòa Thượng Thích Đỗng Tuyên)

25/03/202208:56(Xem: 5775)
Nụ Cười Của Thầy (bài viết thành kính tưởng niệm Hòa Thượng Thích Đỗng Tuyên)

NỤ CƯỜI CỦA THẦY

Thích Nữ Giới Hương

 

Chúng tôi thường thân mật gọi Hòa thượng Thái Siêu là “Thầy”. Thầy có nụ cười rất hiền hòa và có hai hạt lúa nhỏ (không phải đồng tiền) nơi khoé miệng "lợi khẩu". Vì vậy, thầy giảng pháp rất lưu loát, ít cầm văn bản, thầy cứ nói huyên thuyên, dí dõm, khôi hài bất tận…cho đến khi chuông báo hết giờ thầy mới dừng buổi giảng của mình. Thính chúng, từ Hòa thượng đến chú sadini hành điệu hay nam nữ Phật tử, đều cười tán thưởng với những câu chuyện thầy chia sẻ.

 

on thai sieu (1)


Gặp ai thầy cũng nở nụ cười ân cần chào đón hỏi thăm sức khỏe và việc tu học. Thầy như hóa thân của một bà mẹ, một bồ tát với nữ tính hiền dịu. Ít khi thấy thầy sân giận hay rộn ràng, thầy luôn thong thả nói cười. Trong khoảng thời gian du học tại Ấn Độ, sau những buổi tụng giới ở Chùa Tây Tạng, Delhi, Tăng ni sinh chúng tôi thường được cùng dùng cơm trưa với thầy, quây quần bên thầy, sân chùa luôn vang tiếng cười khi nghe thầy kể chuyện hành điệu ở chốn già lam.

 

Thầy thường cười hỉ xả, gần gủi với lớp trẻ tuổi chúng tôi. Với thầy, tất cả đều đồng đẳng, không có thấp cao như Đức Phật dạy trong kinh Pháp Hoa “Tánh Phật bình đẳng giữa các chúng sanh.” Tuy Thầy là giảng sư dạy Cao Cấp Phật học môn Pali, thầy buông bỏ bản ngã của mình, thầy cầu học và không ngại qua trường đại học Delhi để cùng học một lớp với nhóm học trò nhỏ của mình và cùng nhau tốt nghiệp.  Nụ cười của thầy đã thể hiện tính đồng đẳng, xóa tan bức tường cao thấp của giới nghi.

 

Thầy mang theo nụ cười đó đến Hoa Kỳ. Thầy giảng dạy, hoằng pháp cho tăng ni và Phật tử. Thầy không bận tâm đến việc xây chùa tô tượng đúc chuông, tạo cơ ngơi vật chất cho chính mình. Nơi nào hữu duyên mời thầy, thầy sẽ về làm cố vấn tinh thần giảng dạy. Nơi nào hết duyên thì thầy đi. Thầy miệt mài trong sứ mạng đào tạo tăng ni “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người.” Vẫn là viên phấn viết bảng, vẫn là cây bút miệt mài chấm điểm trên trang giấy… Thầy liên tiếp mở các khóa tu, khóa an cư, truyền dạy giáo lý Phật pháp cho tăng ni, tạo ra năng lượng và sức sống mới cho tăng ni trẻ đủ giới đức và khả năng hoàn thành sứ mạng Như Lai Sứ Giả tại Hoa Kỳ này.

 

Kính lạy Thầy, người thừa chí cả

Thay Thế Tôn truyền bá đạo mầu

Tùy duyên hóa độ vô cầu

Làm Thầy mô phạm dẫn đầu chúng sanh.

 

Chùa Hương Sen, ngày 24 tháng 03 năm 2022

Đảnh lễ kính ghi,

Hậu học TN Giới Hương

 

MỘT VÀI HÌNH ẢNH THÂN THƯƠNG

 

 

 on thai sieu (2)

Photo 1: Thầy chấm điểm và phát quà cho lớp “Sứ Giả Như Lai”
tại Niệm Phật đường Fremont, San Jose, California
  Từ phải sang trái:
 Hàng 1:  Thầy Minh Thông, Thầy Minh Chánh, Thượng Tọa Minh Chí
(Trụ trì Phật Học Viện Quốc Tế), Sư cô Giới Hương, Sư cô Diệu Tịnh và Sư cô Huệ Tâm
Hàng 2:  Thầy Thái Siêu, Hòa thượng Thông Hải và Ni sư Trung Thiện 




on thai sieu (3)

 

Photo 2: Thầy đang trao quà thưởng cho Sư cô Giới Hương và các thuyết trình viên

 

 

 

on thai sieu (4)

 

Photo 3: Toàn khóa Như Lai Sứ Giả



Những hình ảnh khác
on thai sieu (5)on thai sieu (6)on thai sieu (7)on thai sieu (8)on thai sieu (9)on thai sieu (10)on thai sieu (11)on thai sieu (12)on thai sieu (13)on thai sieu (14)

***

facebook
youtube

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10142)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9112)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10600)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9084)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8553)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8709)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9802)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9852)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12771)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8237)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.