Đến Đi Thong Dong (Thơ)

29/01/202220:44(Xem: 7351)
Đến Đi Thong Dong (Thơ)


Đến Đi Thong Dong.

Tiễn Ôn Đến Đi Thong Dong 

Ngày Mây Sen Trắng, Giữa Tầng Không Xanh.

Rừng Thông Gió Trúc Đầy Cành, 

Ngàn Mai Nở Rộ, Tinh Anh Địa Cầu.

Ôn Đến Thế Giới Nhiệm Mầu,

Trao Tay Chánh Niệm , Quay Đầu Bến Mê,

Thong Dong Thầy Bước Trở Về, 

Ngôi Chùa Từ Hiếu, Nằm Nghe Thông Già.

Ôn Đi Giữ Chốn Quê Nhà,

Từ Âu Á Mỹ, Chính Là Tâm Tang.

Thong Dong Đến Chốn Địa Đàng,

Leo Đồi Thế Kỷ, Giữ Ngàn Đất Sâu.

Pháp Thân Lồng Lộng Từ Lâu, 

Ôn Là Mây Trắng, Nghĩa Mầu Tinh Không.

Pháp Thân Trả Mộng Bụi Hồng,

Ôn Là Tịnh Độ, Niệm Lòng Đại Bi.

Đừng Xây Bảo Tháp Khắc Gì..? 

Đừng Nằm Một Chỗ, Đến Đi Bận Lòng.

Hoá Thân Um Nắm Tro Không,

Chia Thành Các Chốn, Làng Hồng, Làng Mai.

Các Con Lưu Ảnh Chớ Phai, 

Phải Chuyên Chánh Niệm, Ngày Dài Đến Đi.

Các Con Học Nguyện Từ Bi, 

Lắng Nghe Hiểu Biết, Những Gì Ôn Trao.

Các Con Nhớ Tập Sáng Soi, 

Phải Trong Im Lặng, Bước Vào Nhà Tâm.

Các Con Giữ Giới Giữ Thân,

Phải Luôn Đi Một, Thâm Ân Lời Thầy.

Đừng Nghĩ Ôn Mất Từ Đây, 

Trong Con Là Pháp, Trong Thầy Có Con.

Đừng Nghĩ Ôn Mất Chẳng Còn,

Trong Lời Thầy Dạy, Vẫn Tròn Uy Nguyên.

Quay Về Nương Bụt Cõi Huyền, 

Trong Ôn Chánh Niệm, An Nhiên Trở Về.

Quay Về Nương Pháp Thoát Mê, 

Trong Ôn An Trú, Đường Quê Hương Mình.

Quay Tăng Học Pháp Lời Kinh, 

Trong Ôn Chuyển Hoá, Tâm Linh Tháng Ngày.

Tâm Tang Tu Học Pháp Này, 

Mãi Ghi Sử Sách, Chân Thầy Tròn Trăng.

Tiễn Ôn Xứ Huế Nắng Hồng, 

Tiễn Ôn Xứ Huế, Lặng Trong Cõi Đời.

Dâng Tràng Hoa Pháo Thảnh Thơi,

Tiễn Ôn Lặng Lẻ, Bậc Thầy Lừng Danh.

Hậu Học chúng con, nhân duyên trở về chốn Tổ Đình Từ Hiếu đảnh lễ Pháp thân Đức tướng của Bậc Niên Trưởng Tông phong, chúng con biết sự hiện diện lặng thinh như mây trắng đến lạ thường, ai ai về chiêm ngưỡng, người người đứng Chánh Niệm nghe hơi thở tự do, như chính pháp hành mà Sư Ôn đã chỉ dạy hơn 70 năm du phương tìm hiểu theo công ánh của Bụt, “Vị” tình yêu đầu đời trong con.

       Giờ này chúng con thực hành pháp yên lặng như hơi thở Chánh Niệm pháp từ dung.

      Hậu học Kẻ Sĩ Không Thành  chúng con, cùng các học trò Liên Tịnh Nguyện, gia trì niệm Quán âm, vọng bái tâm tang.

Cúi xin Tôn sư nhã giám trong pháp hành Chánh Niệm tự thân. Nhân ngày tâm tang thứ 7 -tại chốn Tổ Đình Từ Hiếu- Huế. Cung tiễn Ôn Lên Đài Hoá Thân Vĩnh Hằng- Vườn Địa Đàng.

Cung kính Vọng Bái Giác Linh Sư Ôn..! 

 一心頂禮嗣臨濟正宗第四十二代,了觀法脈第八世,慈孝寺住持,芳雲庵,法雲寺開山,國際梅村道場,清山道場,鹿菀道場禪主,避釋上澄下光字逢春號一行禪師阮公大和尚覺靈.

Nhất tâm đảnh lễ Tân Viên Tịch, Tự Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Liễu Quán Pháp Phái Đệ Bát Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Niên Trưởng Trú Trì, Mai Thôn Đạo Tràng Quốc Tế Khai Sơn, Huý Thượng Trừng Hạ Quang, Tự Phùng Xuân, Hiệu Nhất Hạnh Thiền Sư, Nguyễn Công Hoà Thượng Giác Linh.

                 Tk: Thích Minh Thế

                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.

                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang 

                 Ngày 29-01-2022

                 Ngày Âm Lịch: 27-12-Tân Sửu.
Di-Den-Thong-Dong-1Di-Den-Thong-Dong-2Di-Den-Thong-Dong-3Di-Den-Thong-Dong-4Di-Den-Thong-Dong-5Di-Den-Thong-Dong-6Di-Den-Thong-Dong-7Di-Den-Thong-Dong-8Di-Den-Thong-Dong-9Di-Den-Thong-Dong-10

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/03/2013(Xem: 8745)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9685)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11485)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12871)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24194)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10157)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8640)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8545)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8446)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9615)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964