Ngày Xưa bên Thầy (bài viết của đệ tử Tịnh Huệ Tâm Vân kính dâng Sư Bà Đạt Hương)

17/01/202213:16(Xem: 5414)
Ngày Xưa bên Thầy (bài viết của đệ tử Tịnh Huệ Tâm Vân kính dâng Sư Bà Đạt Hương)
Su Ba Dat Huong (4)
NGÀY XƯA BÊN THẦY
 Kính dâng Giác Linh Sư Bà Đạt Hương

 



Sân chùa sứ nở hoa đài

Đông về lạnh lẽo ngày dài thiên thu

Sáng nay trời bỗng âm u

Nhân gian lắng đọng, tâm tư nghẹn ngào

Chân như Người đã bước vào

Trầm luân khép cửa, tiêu dao tháng ngày.

Sáng nay nơi xứ người con nhận tin của Sư Chị Tịnh Nguyên: “Tâm Vân ơi, Thầy đã đi rồi, buồn quá Sư muội ơi.” Mặc dù tâm trạng con rất tệ, con vẫn bình tĩnh hầu chuyện với Sư Chị Tịnh Huy và Sư Chị Tịnh Hân, mà nước mắt con cứ chảy không sao ngăn được, khắc khoải tràn ngập trong lòng. Thôi thì cứ để một chút phàm trần bên trong tự tuôn ra theo kiểu thường tình.

Bước vào những ngày đông, giữa tiết trời lạnh buốt, hạnh nguyện Người viên mãn, cõi hồng trần đã hết, Người mãn duyên nhẹ bước, chốn Niết Bàn thảnh thơi.

Nơi phương trời xa vạn dặm chúng con hướng vọng về An Tường Ni Tự miền thùy dương cát trắng.

Kính lạy Thầy! Chúng con vẫn hiểu các pháp từ duyên sinh, nhưng giây phút này lòng cứ nghèn nghẹn .

Tâm can vỡ vụn rơi từng mảnh
Tiễn biệt Thầy về chốn tịnh thanh
Cực Lạc Thầy đã về nhanh
Chúng con ở lại ảnh Thầy ghi tâm.


Chúng con lại chơi vơi, giữa Ta Bà cõi tạm, trĩu nặng dòng lệ rơi.

Để hình ảnh, tình thương và lòng từ ái của Người hiện rõ trong chúng con mỗi ngày càng thêm sâu sắc hơn.

Quả thật, vốn biết cuộc đời chỉ là sự biến chuyển không ngừng do các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã chi phối.Thế nhưng, chúng con lại quá đau lòng khi được tin Thầy mãi mãi rời xa chúng con.

Kinh Phật ngày đêm tụng đọc, chân lý Phật Đà người đã trao truyền. Thầy đã mượn thân tứ đại giả hợp làm thuyền từ, để đưa mình, độ người vượt bến mê trầm luân.



Con còn nhớ năm 2015 về thăm Thầy, lúc con quỳ lạy bái biệt Thầy, Thầy ôn hòa nhắn nhủ dạy con: “Tùy duyên mà hầu Tam Bảo nhưng làm gì cũng đừng quên câu niệm Phật nghe con, giữ vững tâm Bồ đề, đừng để lòng thoái chuyển”. Lời của Thầy cứ từng giọt sáng rót vào tâm tư con, làm cho con bịn rịn không muốn dời bước.

An Tường cảm niệm thâm tình đạo
Ấp ủ ân tình mối tương giao...
Đứng trước Phật đài con khấn nguyện
Thầy về Cực Lạc chốn tiêu dao.

Thầy ơi! dáng vẻ khoan thai, với lòng từ mẫn không chỉ riêng với chúng con mà với tất cả hàng xuất gia hay tại gia Thầy luôn lấy thân giáo làm bài học mỗi ngày cho chúng con tỏ ngộ.

Sự thảnh thơi chừng mực của Thầy được thể hiện bằng chính những thái độ nhẹ nhàng nhưng không kém phần nghiêm khắc, kèm theo nụ cười hiền của gốc người Hà Tĩnh.



Thầy luôn bao dung và dung dị thật hiếm có. Vào Thập niên 84 thời cuộc vô cùng khó khăn, Thầy đã nuôi lớn chúng con bằng tình thương và chăm lo cho chúng con từng bữa ăn, tuy đạm bạc nhưng có hương vị thương yêu, ngọt ngào của Thầy.

Con còn nhớ sáng hôm ấy Thầy bảo con lấy cái rổ, rồi theo Thầy ra vườn, Thầy hái trái khế chua và hướng dẫn con phải sắt và gọt như thế nào, nhưng con lại quá vụng về, con đã làm tay mình bị thương chảy máu, lúc đó Thầy đã làm cho con cảm động rưng rưng, Thầy đãvội hái vài lá cây gần đó băng lại vết thương cho con. Cuối cùng thì con ngồi đó, nhìn Thầy cắt từng quả khế chua kia, và con thỏ thẻ hỏi Thầy cắt khế để làm gì? Thầy mỉm cười nói: “Để cho các con ăn trừ cơm”. Thế là trưa hôm đó chúng con có món đồ kho bằng khế chua và món canh cũng là khế chua với vài loại rau, nhưng con thấy quá tuyệt vời, vì lần đầu tiên trong đời con được thưởng thức.



May thay cho con giữa chốn trầm luân, Thầy đã che chở cho con những ngày đầu xuất gia tu học. Thầy cứ như một bà tiên hiện ra mỗi ngày với chúng con, ngày ấy mỗi tháng chị em chúng con thay nhau làm thị giả cho Thầy, đến phiên con, mang tiếng thị giả chứ có làm được gì đâu, buổi trưa có dâng được cho Thầy khay cơm, tối thì ngủ như chết, khuya Thầy còn phải đánh thức con dậy đi công phu sáng, có những đêm khuya Thầy còn nhẹ nhàng kéo chăn đắp cho con nữa. Thầy đã để lại trong lòng con một hồi ức tốt đẹp, với bao niềm thương tiếc và hoài niệm.




ni su tam van va su phu dat huong
Đệ tử Tịnh Huệ Tâm Vân về đảnh lễ Sư Phụ Đạt Hương năm 2015







Kính bạch Thầy!


Chúng con cũng biết, Thầy đã nhẹ nhàng ra đi vào cõi tịnh, đã thuận theo một cách tự nhiên mà không cưỡng cầu. Chúng con biết, những tháng ngày còn lại không còn được nghe Thầy dạy bảo nhưng xin Thầy hãy yên lòng an nghỉ.

Hoa sứ nở rộ trước sân chùa Trăng sáng đã về, bản nguyện và tình thương của Thầy luôn hiện hữu trong mỗi chúng con, làm ánh đuốc sáng soi đường dẫn lối. Chúng con kính xin Thầy ở cõi Niết Bàn, luôn gia hộ và che chở cho đệ tử chúng con!



Vẫn biết rằng, dòng đời là cõi tạm, sanh ký tử quy, mọi sự vật trên thế gian này luân lưu như dòng nước chảy, và trong bất cứ cuộc chia ly nào, dù thể hiện không sao tỏ bày hết được, vẫn đượm một nỗi buồn vời vợi. Nơi cõi thênh thang, chắc chắn Thầy tự tại an nhiên. Kính xin Giác linh Thầy từ bi chứng giám lòng thành cảm niệm. Để rồi chúng con mãi mãi khi nghĩ nhớ về Thầy chỉ còn là phảng phất trong di ảnh.



Kính nguyện Giác linh Thầy chứng minh gia hộ cho đệ tử chúng con trên đường thực thi lý tưởng, phụng trì Chánh Pháp, ngõ hầu đền đáp bốn ân trong muôn một.

Kính nguyện Giác linh Thầy thùy từ chứng giám. Ngưỡng nguyện Giác Linh Thầy gia ân, yểm trợ cho chúng con vững chãi niềm tin trên bước tu học và phụng sự tha nhân.



Đệ tử chúng con Thành kính đảnh lễ bái biệt Thầy!

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Atlanta, Mỹ quốc, ngày 16/01/2022

Đệ tử Tâm Vân - Hiệu Tịnh Huệ



 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 18146)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8630)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8797)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9750)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11532)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13125)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24337)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10371)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8690)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8620)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.