Ngày Xưa bên Thầy (bài viết của đệ tử Tịnh Huệ Tâm Vân kính dâng Sư Bà Đạt Hương)

17/01/202213:16(Xem: 5415)
Ngày Xưa bên Thầy (bài viết của đệ tử Tịnh Huệ Tâm Vân kính dâng Sư Bà Đạt Hương)
Su Ba Dat Huong (4)
NGÀY XƯA BÊN THẦY
 Kính dâng Giác Linh Sư Bà Đạt Hương

 



Sân chùa sứ nở hoa đài

Đông về lạnh lẽo ngày dài thiên thu

Sáng nay trời bỗng âm u

Nhân gian lắng đọng, tâm tư nghẹn ngào

Chân như Người đã bước vào

Trầm luân khép cửa, tiêu dao tháng ngày.

Sáng nay nơi xứ người con nhận tin của Sư Chị Tịnh Nguyên: “Tâm Vân ơi, Thầy đã đi rồi, buồn quá Sư muội ơi.” Mặc dù tâm trạng con rất tệ, con vẫn bình tĩnh hầu chuyện với Sư Chị Tịnh Huy và Sư Chị Tịnh Hân, mà nước mắt con cứ chảy không sao ngăn được, khắc khoải tràn ngập trong lòng. Thôi thì cứ để một chút phàm trần bên trong tự tuôn ra theo kiểu thường tình.

Bước vào những ngày đông, giữa tiết trời lạnh buốt, hạnh nguyện Người viên mãn, cõi hồng trần đã hết, Người mãn duyên nhẹ bước, chốn Niết Bàn thảnh thơi.

Nơi phương trời xa vạn dặm chúng con hướng vọng về An Tường Ni Tự miền thùy dương cát trắng.

Kính lạy Thầy! Chúng con vẫn hiểu các pháp từ duyên sinh, nhưng giây phút này lòng cứ nghèn nghẹn .

Tâm can vỡ vụn rơi từng mảnh
Tiễn biệt Thầy về chốn tịnh thanh
Cực Lạc Thầy đã về nhanh
Chúng con ở lại ảnh Thầy ghi tâm.


Chúng con lại chơi vơi, giữa Ta Bà cõi tạm, trĩu nặng dòng lệ rơi.

Để hình ảnh, tình thương và lòng từ ái của Người hiện rõ trong chúng con mỗi ngày càng thêm sâu sắc hơn.

Quả thật, vốn biết cuộc đời chỉ là sự biến chuyển không ngừng do các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã chi phối.Thế nhưng, chúng con lại quá đau lòng khi được tin Thầy mãi mãi rời xa chúng con.

Kinh Phật ngày đêm tụng đọc, chân lý Phật Đà người đã trao truyền. Thầy đã mượn thân tứ đại giả hợp làm thuyền từ, để đưa mình, độ người vượt bến mê trầm luân.



Con còn nhớ năm 2015 về thăm Thầy, lúc con quỳ lạy bái biệt Thầy, Thầy ôn hòa nhắn nhủ dạy con: “Tùy duyên mà hầu Tam Bảo nhưng làm gì cũng đừng quên câu niệm Phật nghe con, giữ vững tâm Bồ đề, đừng để lòng thoái chuyển”. Lời của Thầy cứ từng giọt sáng rót vào tâm tư con, làm cho con bịn rịn không muốn dời bước.

An Tường cảm niệm thâm tình đạo
Ấp ủ ân tình mối tương giao...
Đứng trước Phật đài con khấn nguyện
Thầy về Cực Lạc chốn tiêu dao.

Thầy ơi! dáng vẻ khoan thai, với lòng từ mẫn không chỉ riêng với chúng con mà với tất cả hàng xuất gia hay tại gia Thầy luôn lấy thân giáo làm bài học mỗi ngày cho chúng con tỏ ngộ.

Sự thảnh thơi chừng mực của Thầy được thể hiện bằng chính những thái độ nhẹ nhàng nhưng không kém phần nghiêm khắc, kèm theo nụ cười hiền của gốc người Hà Tĩnh.



Thầy luôn bao dung và dung dị thật hiếm có. Vào Thập niên 84 thời cuộc vô cùng khó khăn, Thầy đã nuôi lớn chúng con bằng tình thương và chăm lo cho chúng con từng bữa ăn, tuy đạm bạc nhưng có hương vị thương yêu, ngọt ngào của Thầy.

Con còn nhớ sáng hôm ấy Thầy bảo con lấy cái rổ, rồi theo Thầy ra vườn, Thầy hái trái khế chua và hướng dẫn con phải sắt và gọt như thế nào, nhưng con lại quá vụng về, con đã làm tay mình bị thương chảy máu, lúc đó Thầy đã làm cho con cảm động rưng rưng, Thầy đãvội hái vài lá cây gần đó băng lại vết thương cho con. Cuối cùng thì con ngồi đó, nhìn Thầy cắt từng quả khế chua kia, và con thỏ thẻ hỏi Thầy cắt khế để làm gì? Thầy mỉm cười nói: “Để cho các con ăn trừ cơm”. Thế là trưa hôm đó chúng con có món đồ kho bằng khế chua và món canh cũng là khế chua với vài loại rau, nhưng con thấy quá tuyệt vời, vì lần đầu tiên trong đời con được thưởng thức.



May thay cho con giữa chốn trầm luân, Thầy đã che chở cho con những ngày đầu xuất gia tu học. Thầy cứ như một bà tiên hiện ra mỗi ngày với chúng con, ngày ấy mỗi tháng chị em chúng con thay nhau làm thị giả cho Thầy, đến phiên con, mang tiếng thị giả chứ có làm được gì đâu, buổi trưa có dâng được cho Thầy khay cơm, tối thì ngủ như chết, khuya Thầy còn phải đánh thức con dậy đi công phu sáng, có những đêm khuya Thầy còn nhẹ nhàng kéo chăn đắp cho con nữa. Thầy đã để lại trong lòng con một hồi ức tốt đẹp, với bao niềm thương tiếc và hoài niệm.




ni su tam van va su phu dat huong
Đệ tử Tịnh Huệ Tâm Vân về đảnh lễ Sư Phụ Đạt Hương năm 2015







Kính bạch Thầy!


Chúng con cũng biết, Thầy đã nhẹ nhàng ra đi vào cõi tịnh, đã thuận theo một cách tự nhiên mà không cưỡng cầu. Chúng con biết, những tháng ngày còn lại không còn được nghe Thầy dạy bảo nhưng xin Thầy hãy yên lòng an nghỉ.

Hoa sứ nở rộ trước sân chùa Trăng sáng đã về, bản nguyện và tình thương của Thầy luôn hiện hữu trong mỗi chúng con, làm ánh đuốc sáng soi đường dẫn lối. Chúng con kính xin Thầy ở cõi Niết Bàn, luôn gia hộ và che chở cho đệ tử chúng con!



Vẫn biết rằng, dòng đời là cõi tạm, sanh ký tử quy, mọi sự vật trên thế gian này luân lưu như dòng nước chảy, và trong bất cứ cuộc chia ly nào, dù thể hiện không sao tỏ bày hết được, vẫn đượm một nỗi buồn vời vợi. Nơi cõi thênh thang, chắc chắn Thầy tự tại an nhiên. Kính xin Giác linh Thầy từ bi chứng giám lòng thành cảm niệm. Để rồi chúng con mãi mãi khi nghĩ nhớ về Thầy chỉ còn là phảng phất trong di ảnh.



Kính nguyện Giác linh Thầy chứng minh gia hộ cho đệ tử chúng con trên đường thực thi lý tưởng, phụng trì Chánh Pháp, ngõ hầu đền đáp bốn ân trong muôn một.

Kính nguyện Giác linh Thầy thùy từ chứng giám. Ngưỡng nguyện Giác Linh Thầy gia ân, yểm trợ cho chúng con vững chãi niềm tin trên bước tu học và phụng sự tha nhân.



Đệ tử chúng con Thành kính đảnh lễ bái biệt Thầy!

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Atlanta, Mỹ quốc, ngày 16/01/2022

Đệ tử Tâm Vân - Hiệu Tịnh Huệ



 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9077)
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.
09/04/2013(Xem: 10792)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14256)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 25979)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15588)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9942)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 18009)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15832)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13425)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8850)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.