Ngày Xưa bên Thầy (bài viết của đệ tử Tịnh Huệ Tâm Vân kính dâng Sư Bà Đạt Hương)

17/01/202213:16(Xem: 5135)
Ngày Xưa bên Thầy (bài viết của đệ tử Tịnh Huệ Tâm Vân kính dâng Sư Bà Đạt Hương)
Su Ba Dat Huong (4)
NGÀY XƯA BÊN THẦY
 Kính dâng Giác Linh Sư Bà Đạt Hương

 



Sân chùa sứ nở hoa đài

Đông về lạnh lẽo ngày dài thiên thu

Sáng nay trời bỗng âm u

Nhân gian lắng đọng, tâm tư nghẹn ngào

Chân như Người đã bước vào

Trầm luân khép cửa, tiêu dao tháng ngày.

Sáng nay nơi xứ người con nhận tin của Sư Chị Tịnh Nguyên: “Tâm Vân ơi, Thầy đã đi rồi, buồn quá Sư muội ơi.” Mặc dù tâm trạng con rất tệ, con vẫn bình tĩnh hầu chuyện với Sư Chị Tịnh Huy và Sư Chị Tịnh Hân, mà nước mắt con cứ chảy không sao ngăn được, khắc khoải tràn ngập trong lòng. Thôi thì cứ để một chút phàm trần bên trong tự tuôn ra theo kiểu thường tình.

Bước vào những ngày đông, giữa tiết trời lạnh buốt, hạnh nguyện Người viên mãn, cõi hồng trần đã hết, Người mãn duyên nhẹ bước, chốn Niết Bàn thảnh thơi.

Nơi phương trời xa vạn dặm chúng con hướng vọng về An Tường Ni Tự miền thùy dương cát trắng.

Kính lạy Thầy! Chúng con vẫn hiểu các pháp từ duyên sinh, nhưng giây phút này lòng cứ nghèn nghẹn .

Tâm can vỡ vụn rơi từng mảnh
Tiễn biệt Thầy về chốn tịnh thanh
Cực Lạc Thầy đã về nhanh
Chúng con ở lại ảnh Thầy ghi tâm.


Chúng con lại chơi vơi, giữa Ta Bà cõi tạm, trĩu nặng dòng lệ rơi.

Để hình ảnh, tình thương và lòng từ ái của Người hiện rõ trong chúng con mỗi ngày càng thêm sâu sắc hơn.

Quả thật, vốn biết cuộc đời chỉ là sự biến chuyển không ngừng do các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã chi phối.Thế nhưng, chúng con lại quá đau lòng khi được tin Thầy mãi mãi rời xa chúng con.

Kinh Phật ngày đêm tụng đọc, chân lý Phật Đà người đã trao truyền. Thầy đã mượn thân tứ đại giả hợp làm thuyền từ, để đưa mình, độ người vượt bến mê trầm luân.



Con còn nhớ năm 2015 về thăm Thầy, lúc con quỳ lạy bái biệt Thầy, Thầy ôn hòa nhắn nhủ dạy con: “Tùy duyên mà hầu Tam Bảo nhưng làm gì cũng đừng quên câu niệm Phật nghe con, giữ vững tâm Bồ đề, đừng để lòng thoái chuyển”. Lời của Thầy cứ từng giọt sáng rót vào tâm tư con, làm cho con bịn rịn không muốn dời bước.

An Tường cảm niệm thâm tình đạo
Ấp ủ ân tình mối tương giao...
Đứng trước Phật đài con khấn nguyện
Thầy về Cực Lạc chốn tiêu dao.

Thầy ơi! dáng vẻ khoan thai, với lòng từ mẫn không chỉ riêng với chúng con mà với tất cả hàng xuất gia hay tại gia Thầy luôn lấy thân giáo làm bài học mỗi ngày cho chúng con tỏ ngộ.

Sự thảnh thơi chừng mực của Thầy được thể hiện bằng chính những thái độ nhẹ nhàng nhưng không kém phần nghiêm khắc, kèm theo nụ cười hiền của gốc người Hà Tĩnh.



Thầy luôn bao dung và dung dị thật hiếm có. Vào Thập niên 84 thời cuộc vô cùng khó khăn, Thầy đã nuôi lớn chúng con bằng tình thương và chăm lo cho chúng con từng bữa ăn, tuy đạm bạc nhưng có hương vị thương yêu, ngọt ngào của Thầy.

Con còn nhớ sáng hôm ấy Thầy bảo con lấy cái rổ, rồi theo Thầy ra vườn, Thầy hái trái khế chua và hướng dẫn con phải sắt và gọt như thế nào, nhưng con lại quá vụng về, con đã làm tay mình bị thương chảy máu, lúc đó Thầy đã làm cho con cảm động rưng rưng, Thầy đãvội hái vài lá cây gần đó băng lại vết thương cho con. Cuối cùng thì con ngồi đó, nhìn Thầy cắt từng quả khế chua kia, và con thỏ thẻ hỏi Thầy cắt khế để làm gì? Thầy mỉm cười nói: “Để cho các con ăn trừ cơm”. Thế là trưa hôm đó chúng con có món đồ kho bằng khế chua và món canh cũng là khế chua với vài loại rau, nhưng con thấy quá tuyệt vời, vì lần đầu tiên trong đời con được thưởng thức.



May thay cho con giữa chốn trầm luân, Thầy đã che chở cho con những ngày đầu xuất gia tu học. Thầy cứ như một bà tiên hiện ra mỗi ngày với chúng con, ngày ấy mỗi tháng chị em chúng con thay nhau làm thị giả cho Thầy, đến phiên con, mang tiếng thị giả chứ có làm được gì đâu, buổi trưa có dâng được cho Thầy khay cơm, tối thì ngủ như chết, khuya Thầy còn phải đánh thức con dậy đi công phu sáng, có những đêm khuya Thầy còn nhẹ nhàng kéo chăn đắp cho con nữa. Thầy đã để lại trong lòng con một hồi ức tốt đẹp, với bao niềm thương tiếc và hoài niệm.




ni su tam van va su phu dat huong
Đệ tử Tịnh Huệ Tâm Vân về đảnh lễ Sư Phụ Đạt Hương năm 2015







Kính bạch Thầy!


Chúng con cũng biết, Thầy đã nhẹ nhàng ra đi vào cõi tịnh, đã thuận theo một cách tự nhiên mà không cưỡng cầu. Chúng con biết, những tháng ngày còn lại không còn được nghe Thầy dạy bảo nhưng xin Thầy hãy yên lòng an nghỉ.

Hoa sứ nở rộ trước sân chùa Trăng sáng đã về, bản nguyện và tình thương của Thầy luôn hiện hữu trong mỗi chúng con, làm ánh đuốc sáng soi đường dẫn lối. Chúng con kính xin Thầy ở cõi Niết Bàn, luôn gia hộ và che chở cho đệ tử chúng con!



Vẫn biết rằng, dòng đời là cõi tạm, sanh ký tử quy, mọi sự vật trên thế gian này luân lưu như dòng nước chảy, và trong bất cứ cuộc chia ly nào, dù thể hiện không sao tỏ bày hết được, vẫn đượm một nỗi buồn vời vợi. Nơi cõi thênh thang, chắc chắn Thầy tự tại an nhiên. Kính xin Giác linh Thầy từ bi chứng giám lòng thành cảm niệm. Để rồi chúng con mãi mãi khi nghĩ nhớ về Thầy chỉ còn là phảng phất trong di ảnh.



Kính nguyện Giác linh Thầy chứng minh gia hộ cho đệ tử chúng con trên đường thực thi lý tưởng, phụng trì Chánh Pháp, ngõ hầu đền đáp bốn ân trong muôn một.

Kính nguyện Giác linh Thầy thùy từ chứng giám. Ngưỡng nguyện Giác Linh Thầy gia ân, yểm trợ cho chúng con vững chãi niềm tin trên bước tu học và phụng sự tha nhân.



Đệ tử chúng con Thành kính đảnh lễ bái biệt Thầy!

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Atlanta, Mỹ quốc, ngày 16/01/2022

Đệ tử Tâm Vân - Hiệu Tịnh Huệ



 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10284)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9133)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10617)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9093)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8575)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8865)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9810)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9889)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12780)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8251)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.