Câu chuyện trái quýt

20/10/202121:42(Xem: 6907)
Câu chuyện trái quýt

 

TT-Thich-Hanh-Tan

Câu chuyện trái quýt
Bài viết của TT. Thích Hạnh Tấn do Cư Sĩ Diệu Danh diễn đọc


 

     Nhận được gợi ý của chú Phù Vân tôi muốn gửi đến quý vị một mẩu chuyện nhỏ nhưng đối với cá nhân chúng tôi là một bài học tuyệt vời đồng thời cũng là một kinh nghiệm quý báu.

 

     Trong những năm tháng khi mới vào chùa làm Sa Di tôi thường theo Thầy tôi đi đến những Chi Hội Phật Tử trên nước Đức để học hỏi, khi Thầy làm lễ và hướng dẫn cư sĩ Phật tử tu học trong các kỳ thọ Bát Quan Trai. Lúc bấy giờ chùa còn có xe “Đại Thừa” chín chỗ hiệu Mitsubishi màu đỏ sậm của Nha sĩ Hòa ở Norddeich cúng dường, nên đôi khi đi rất nhiều vị trong xe. Lần đó do bác Thị Tâm Ngô Văn Phát lái xe, Thầy tôi ngồi bên ghế phụ, phía sau có Sư Bà Diệu Tâm, vài vị trong chùa và tôi. Đi cũng được hơn một tiếng đồng hồ và trời trưa mùa hè với xe không có máy lạnh nên trong xe rất hong nóng. Phía sau đưa lên trái quít để dâng lên Thầy, tôi mau mắn vươn người ra trước định chuyền tiếp. Nhưng tay vươn chưa thẳng thì Sư Bà Diệu Tâm đã kéo tôi lại và kể cho nghe một mẩu chuyện, Sư Bà nói: “chú Thiện Phước (đệ tử đầu tiên của Thầy tôi đến từ Phần Lan, chú là người Việt gốc Quảng Đông, khi tôi vào chùa được hơn hai năm thì chú xin về lại Phần Lan) thì không được tỉ mỉ, chẳng cẩn thận cũng như chú vậy! Cứ để nguyên trái mà đưa lên trước! Chú Thiện Thành (người đệ tử sau đó của Thầy tôi, nhưng chú đi học bên ngoài không thường ở chùa) thì rất chu đáo, mỗi lần chú đều lột quýt cẩn thận, lấy cả những chỉ quýt rồi để lên giấy ăn mới dâng lên Thầy, nhưng Tôi thấy cũng không ổn. Chú cứ liệu mà làm!” Khi nghe Sư Bà nói vậy tôi rất phân vân, đối với một chú “tiểu” mới hai mươi ba tuổi không sành chuyện đời, không thạo chuyện cửa thiền thì câu chuyện xuất hiện như là một “công án” vậy. Suy tới nghĩ lui, tôi chọn trung đạo thế là cũng lột ra, nhưng để nguyên phần trái quýt bên trong ở trong vỏ và dâng lên cho Thầy. Sư Bà không cản lại nữa.

 

     Đến hôm nay tôi cũng không biết là lúc đó Sư Bà có đồng ý với việc làm của tôi không? Tôi cũng không biết là tôi làm như vậy là đúng đắn? Nhưng tôi đã học được một điều quý giá từ sự kiện đó là phàm làm gì cũng nên học hỏi từ những người đi trước, cân nhắc, suy xét rồi đưa ra giải pháp cho riêng mình.

 

     Khi tôi vào chùa, Sư Bà thân thiện như một người mẹ, Sư Bà mặc dầu có Phật sự riêng ở Hamburg những mỗi khi về Hannover đều quan tâm đến những chú Sa Di trẻ chúng tôi. Khi biết chúng tôi (lúc bấy giờ là chú Thiện Phước, chú Thiện Sơn – ở chùa trong 3 tháng hè, chú Thiện Thành và tôi) ngủ dưới hầm vừa ẩm, vừa lạnh vừa tối, Sư Bà liền kiến nghị với Thầy tôi phải chú ý điểm này! Vừa may ngôi nhà nhỏ dùng làm cửa hàng bán len vừa đóng cửa, Thầy tôi đã thuê lại nơi ấy để sửa lại làm phòng ở cho chúng tôi. Đúng lúc có thêm một chú người Đức – Thiện Nam vừa đến xin tu tập.

 

     Những kỷ niệm về Sư Bà rất nhiều mẩu vụn vặt, dường như không quan trọng, nhưng ráp lại thì thành một bức tranh vô cùng sống động đầy thương yêu và khéo léo. Mỗi khi nghĩ về Sư Bà là mẩu chuyện “Trái Quýt” đều sống lại trong đầu và nhắc nhở tôi về bước chân đầu tiên trên con đường giải thoát của mình gắn liền với sự học hỏi và tư duy.

     Hôm nay giã biệt Sư Bà, nhưng chắc chắn nhân duyên giữa Sư Bà và tôi vẫn còn kết nối.

 

Nam Mô thượng Nguyên hạ Từ, hiệu Diệu Tâm Ni Trưởng chi Giác Linh.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10289)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9144)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10620)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9159)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8606)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8868)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9830)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9897)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12794)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8260)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.