Hiền Thục Lời Di Ngôn…!

17/06/202103:27(Xem: 7856)
Hiền Thục Lời Di Ngôn…!

su-ba-dieu-tam-2

Hiền Thục Lời Di Ngôn…! 

Bài viết: Thích Minh Thế

Diễn ngâm: Cư Sĩ Quảng An


Diễn đọc: Cư Sĩ Diệu Danh

 


 

Hoa Hạnh Tuệ, Dung Thông Nguồn Chánh Pháp.

Bản Chân Như, Khơi Tuệ Giác Tình Thương.

Đời Khiêm Cung, Rung Động Cánh Sen Hương.

Ôm Đời Thực, Giữ Luật Sáng Minh Đường.

Quê Xứ Quảng, Chủng Tánh Thời Sinh Hạ.

Dòng Họ Văn, Nhi Nữ Huý Thị Mai.

Theo Gót Mẹ, Trì Danh Kinh Lễ Phật.

Mộng Xuất Gia  , Từ Giã Tục Trần Ai.

Tuổi Mười Lăm, Dáng Hình Người Thiếu Nữ.

Phủi Tóc Xanh, Cầu Tuệ Chốn Thiền Môn.

Nuôi Nguyện Ước, Niềm Tin Hương Mùi Đạo.

Năm Giới Lành, Hiền Thục Lời Di Ngôn.

Chùa Bảo Thắng, Xứ Hội An Chuông Vọng.

Thức Tỉnh Mê, Say Mộng Với Hư Danh.

Bái Tôn Sư, Đàm Minh Thâu Nhận Đệ.

Đặt Nguyên Từ, Nhận Lãnh Giới Tu Hành.

Năm Tháng Luyện, Một Thời Thành Ni Tiểu.

Sớm Hôm Khuya, Hầu Thục Trà Dâng Sư.

Bốn Oai Nghi, Viên Mãn Tính Thiền Bi.

Tâm Sáng Tỏ, Chỏm Kia Rụng Mà Tu.

Năm Kỷ Hợi, Sa Di Ni Lãnh Giới.

Vang Âm Trì, Tinh Tiến Lớn Thời Kinh.

Năm Tân Sửu, Thức Xoa Thêm Mạch Pháp.

Ối Diệp Lời, An Trú Sáng Nhân Sinh.

Chốn Thuận Hoá, Mở Khai Đàn Thuyết Giới.

Vạn Hạnh Đàn, Diệu Tâm Lãnh Tỳ Kheo.

Nhiếp Nguồn Chơn, Giác Nhiên Đàn Hoà Thượng.

Từ Hiếu Tổ, Y Bát Nhận Mang Theo.

Nương Cầu Học, Sư Diệu Không- Diệu Trí.

Cát Tường- Viên, Cầu Y Pháp -Viên Minh.

Bậc Ân Sư, Nuôi Chốn Gia Lam Địa.

Sáng Vận Thời, Pháp Phật Mãi Uy Linh.

Xứ Đà Nẳng, Cô Nhi Trường Diệu Định.

Dưỡng Tuệ Tâm, Hương Mầm Hạnh Muôn Phương.

Chuyên Hầu Cận, Ân Sư Giây Phút Cuối.

Trọn Tâm Tình, Lời Dưỡng Dục Yêu Thương.

Xứ Nha Trang, Hải Đức Vang Chí Học.

Đủ Luật Hành, Pháp Phật Luận Soi Gương.

Chữ Một Thời, Gối Diệp Kinh Thư Mộng.

Đã Điển Thời, Từ Giã Biệt Lên Đường.

Theo Tiếng Gọi, Vượt Thuyền Sang Xứ Đức.

Dựng Thiền Gia, Trú Xứ Nguyện Bảo Quang.

Pháp Tinh Khôi, Bảo Vân- Hoa Đàm -Mạch.

Linh Thứu Chùa, Phạm Vũ Vững Nghiêm Trang.

Từng Dấu Chân, Xứ Ấn Bái Thích Ca.

Rơi Dòng Lệ, Tích Lan Ngồi Thiền Định.

Bốn Danh Sơn, Trung Hoa Ni Dạo Bước.

Tìm Lại Rồi, Thái Lan Vịnh, Lung Linh.

Dưỡng Nuôi Mần, Từ Hạt Ngọc Trắng Tinh.

Chăm Từng Dõi, Tặng Tăng Ni Cầu Học.

Của Đàn Na, Bố Thí Diệp Niềm Vui.

Ngồi An Trú, Sàn Tâm Mà Thanh Lọc.

Xứ Châu Âu, Mỹ Quốc Anh Pháp Nhật.

Sư Diệu Tâm, Bái Kiến Tám Pháp Xưa.

Như Hầu Cận, Chư Tôn Hàng Trưởng Lão.

Sống Thiền Gia, Cung Kính Bậc Tôn Thưa.

Ngài Nhất Hạnh, Tâm Châu Thời Pháp Ngữ.

Ngài Minh Tuyền, Từ Xứ Nhật Vấn An.

Ngài Tánh Thiệt, Như Huệ- Đều Cung Kính.

Thức Hành Giã, Giữa Bối Diệp Trăng Ngàn.

Ngài Như Điển, Tịnh Từ -Bát Nhã Trí.

Ngài Minh Tâm, Vấn Mãn Giác Thiền Sư.

Ngài Nguyên Siêu, Thấy Tín Nghĩa Duyên Thừa.

Bảo Lạc Ngài, Khai Thị Chốn Tinh Tu.

Bốn Lời Dạy, Từ Khai Đàn Hậu Tấn.

Diệu Tâm Tình, Như Nguồn Mạch Âm Ba.

Pháp Hoa Kinh, Đến Nương Tựa Di Đà.

Y Bát Cổ, Với Hạnh Luật Ca Sa.

Mở Giới Trường, Diệu Tâm Ni Cung Thỉnh.

Giác Tánh Đàn, Xứ Nguyện A Nan Đà.

Đồng Thập Sư, Thất Chứng Cùng Giáo Thọ.

Luật Hành Tâm, Nương Kỉnh Pháp Lang Xa.

Tám Ba Năm, Ứng Hoá Độ Ta Bà.

Năm Bảy Lạp, Dụng Y Vàng Trì Phật.

Chốn Hương Thiền, Như Di Huấn Truyền Trao.

Thong Dong Bước, Thiền Hành Tâm Trì Mật.

Thời Giờ Đến, Sư Buông Tay Nhẹ Gót.

Chuổi Lần Tràng, Thiền Thất Mãi Còn Ghi.

Dáng Trượng Nghi, Hạnh Nguyện Lối Từ Bi.

Ôn Kỷ Vật, Mùi Thơm Gia Trì Mãi.

Thuyền Lạc Bang, Sư Ngồi Toà Sen Tịnh.

Chín Phẩm Đà, Danh Hiệu Phật Vang Sa.

Tịnh Độ Cảnh, Ghé Thác Duyên Ta Bà.

Dụ Thành Hoá, Bảo Tháp Lộng Trăm Nhà.

Xứ Cố Đô, Chấp Vấn An Bái Nguyện.

Mãi Lưu Truyền, Bậc Ni Trưởng Diệu Tâm.

        Nhân Duyên xin tiếp nối:

        Chúng con, Tỳ Kheo Thích Minh Thế, nhất tâm niệm nguyện Công hạnh tác chứng của Sư Trưởng thượng Diệu hạ Tâm, Viện Chủ Ni Viện Bảo Quang- Humburg- Đức Quốc.

        Một vị Sư Trưởng Sinh thành tại xứ Quảng Nam, xuất gia tu học Chốn Tổ Bảo Thắng - Hội An, thọ giới tại Giới đàn Vạn Hạnh- Từ Hiếu Huế, học tại Hải Đức - Nha Trang.

        Nương các vị tôn túc Ni, hàng Trưởng lão xứ Hội An, Cố Đô Huế, Đà Nẳng, Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Cát Tường, Ni trưởng Diệu Trí, Ni Trưởng Diệu Tấn, Ni Trưởng Diệu Lý, Ni Trưởng Viên Minh, Ni Trưởng Thể Yến, Ni Trưởng Chơn Không, Ni Trưởng Tâm Hoa, Ni Trưởng Chơn Nguyên v.v…, tất cả các vị Ni Trưởng thời bấy giờ được tham vấn học đạo tại Cố Đô Ni trường Diệu Đức, Hồng Ân, Diệu Viên những ngôi cổ tự lớn một thời.

        Từ đó mà, tham cầu học đạo, nung thành sử kinh. Phụng sự chốn Đà Thành một thời oanh Lạp, lời dạy ấy được sự hướng dẫn của chư Tôn Túc trong giáo hội bấy giờ.

        Ngoài ra, Ni Trưởng còn đi tham vấn Cao Tăng Thạc Đức như Hòa Thượng (H.T.) Thích Tâm Châu (Canada); H.T. Thích Mãn Giác, H.T. Thích Tịnh Từ,  H.T. Thích Tín Nghĩa, H.T. Thích Nguyên Siêu (Hoa Kỳ); Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, H.T. Thích Minh Tâm, H.T. Thích Tánh Thiệt (Pháp); H.T. Thích Như Huệ, H.T. Thích Bảo Lạc (Úc); H.T. Thích Minh Tuyền (Nhật Bản); H.T. Thích Như Điển (Đức)… và còn rất nhiều bậc tôn túc khác. 

          Những giảng sư nổi tiếng ngoại quốc như Thiền Sư Ajahn Brahm cũng đã từng được Ni Trưởng vấn an.

          Dấu chân du hoá từ phương ngàn, của Ni Trưởng từng đi qua tham vấn, chiêm bái Phật tích, Thánh tích tại Ấn Độ, Tích Lan, Thái Lan, Tứ đại Thánh tích Danh sơn như: Ngũ Đài Sơn, Nga Mi Sơn, Cửu Hoa Sơn, Phổ Đà Sơn, ở Trung Hoa cũng như các danh lam cổ tự trên toàn thế giới. Ni Trưởng cũng thường lui tới các Tự viện trên các châu lục để thăm viếng và lễ bái, học hỏi tham thiền an trú trong niềm tin.

         Ni Trưởng từng được thỉnh vào trong hàng Thập Giới sư Ni, tại đại giới đàn Ananda-Giác Tánh  giữa tháng 9 năm 2003, tại Tu Viện Vạn Hạnh. Được kiết giới trao truyền Chánh Pháp giới luật.

         Câu nói hay nhất mà lưu danh lại cho hậu học:

           “Khó khăn như kẻ đi gieo hạt bồ đề trên nền xi măng….”

         Ni Trưởng, là vị Thầy khả kính trợ duyên cho các vị học tập tại Xứ Ấn, Tích Lan…

         Năm 2010, Tôi có nhân duyên qua chiền bái Xứ Ấn, duyên lành được gặp Ni Trưởng tại Chốn Bồ Đề, nơi cội nguồn Thành Đạo, duyên là vậy, nên chỉ được góp phần chào nhau và được giới thiệu là Ni Trưởng Diệu Tâm…! 

         Lúc đó, nghe Tôi nói giọng nói xứ Huế, mới hỏi là chốn Tổ nào..?

Tôi bạch: “Chúng con ở chốn Tổ Từ Hiếu…”

       Ni Trưởng rất vui, còn dâng cúng Tôi 100 usa…! 

      Câu nói mà hay lắm như bài pháp cho Tôi thời ấy.

       Ni Trưởng dạy:

      “ Xa Quê mà nhớ về quê, cứ nghe tiếng nói Việt là nhớ về nguồn gốc xứ mình, mãi không quên…! “.

        Nay đúng thời duyên đến, Ni Trưởng đã để lại chúc thư lời cuối, thật sự đáng học, thật sự trân trọng, Ni Trưởng từng tu Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Niệm Phật A Di Đà, Thiền Tập, thực hành hạnh Bố thí cúng dường, kiến tạo già lam, nhiếp hoá đồ chúng, khiêm cung Đức hạnh, thọ trì giữ Bát Kỉnh Pháp, dạy đồ chúng nên giới thân Huệ mạng, tiếp nối giữ gìn nguồn chánh pháp, truyền trao Quy Y, đồng thời dự ngôi hàng Thập Sư qua các giới đàn, thật xứng danh là Người Con Gái Đức Như Lai..! 

           “ Y pháp Toà, hương lưu danh hạnh.

              Chuổi Sư Lần, Bóng Thành Chân nguyên.

             Ba y giới mật chu viên,

             Trượng Thất Vắng Dáng, Cõi Niềm Lặng Tâm…”

      Xin trích lời Di huấn của Ni Trưởng trong việc làm bốn hủ trò:

      “Hũ thứ nhất tên là Nhân Duyên: Từ lúc chào đời đến năm mười bốn mười lăm tuổi, do bởi vô minh, vì miếng ăn sự sống mà tôi đã làm tổn hại không biết bao nhiêu sinh mạng các loài thủy tộc, nhiều nhất là ở quê ngoại Bình Triều. Dù cả đời tu học đã chí thành sám hối, phóng sanh, lập đàn cầu siêu chẩn tế, nhưng vẫn cảm thấy chưa đủ. Nay xin mang chút tro cuối cùng này rải vào dòng sông Chợ Được xem như là biểu tượng cuối cùng trả món nợ nhân duyên ấy. Trước khi tro tôi thả xuống sông, xin cho tôi ghé về đảnh lễ Phật và Tổ ở Chùa Sư Nữ Bảo Thắng, nơi đây vào năm 1956 tôi đã đến xin Sư Phụ cho hành điệu và thế phát xuất gia.

      Hũ thứ hai tên là Thầy Tổ: Nghĩa Ân Sư muôn kiếp khó đáp đền, ngày Sư Phụ xả thân ra đi tôi lại không được có mặt bên cạnh để hầu hạ. Nay kiếp ta bà đã mãn, tôi mong muốn được về nằm chung cùng huynh đệ ở ngôi Tháp nhỏ kế bên Tháp Sư Phụ mình (tháp này đã do huynh đệ xây dựng sẵn để chị em chúng tôi cùng nằm chung bên Thầy trong khuôn viên Tổ đình Tường Vân ở Huế). Cho tôi được ở bên Thầy tôi để luôn luôn gần gũi hầu hạ Ân Sư nhiều đời kiếp nữa. Trước khi nhập Tháp cho tôi về thăm, lễ Phật và tạ ơn Tam Bảo ở Chùa Sư Nữ Bảo Quang Đà Nẵng, nơi đây tôi đã nhiều năm tu học, đội ơn giáo dưỡng sâu dày của Thầy.

        Hũ thứ ba tên là Đảnh Lễ: Còn chút tro bụi, xin cho tôi được về trú tại đất Phật, nguyện đời đời kiếp kiếp đi theo con đường chánh pháp. Nếu thuận duyên, xin rải chút tro này ở Linh Thứu Sơn Ấn Độ, nơi mấy ngàn năm trước đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni từng đưa tay nâng đóa hoa cho nụ cười “niêm hoa vi tiếu” của Ngài Ca Diếp nở ra, nơi mà những lời giáo huấn cao siêu, những bộ kinh lớn như Pháp Hoa... đã hơn một lần được phát ra từ chính kim khẩu Phật làm rúng động cả tam thiên đại thiên thế giới. Quý Phật tử thương tôi, nếu có đủ điều kiện, đủ thiện duyên nên thu xếp cùng tôi một lần về xứ Phật và đồng thời hành hương các Phật tích ở đây. Sự cảm nhận những linh thiêng mầu nhiệm trên đất Phật mỗi người phải tự cảm ứng thể nghiệm, như tôi đã có cơ duyên có được lúc sinh tiền. Về hành hương xứ Phật các Phật tử cứ tâm niệm là có tôi ở đó đón tiếp và hướng dẫn cho quý vị.

       Hũ thứ tư tên là Cảm Tạ và Tiếp Nối: Hũ tro này sẽ nằm tại Khu Phật Giáo của nghĩa trang Öjendorf Hamburg, Đức Quốc. Đây là lời cảm tạ chân thành của tôi với nước Đức, đất nước đã cưu mang tôi và những đồng bào của tôi trong nhiều năm qua. Tôi cũng mong ước các thế hệ sau này nên chọn ngày Lễ Vu Lan, sau khi lễ Chùa lạy Phật hãy cùng về đây đốt một nén hương cho Ông Bà Cha Mẹ, cho tất cả những người thân hay sơ nằm an nghỉ ở đây. Việc này xem như là thiết lập truyền thống Lễ Thanh Minh tại Đức, trong lúc thời tiết ấm áp của mùa Vu Lan để cùng duy trì tiếp nối những nét đẹp văn hóa Việt tại xứ người. Trước khi chôn hũ tro vào lòng đất xin cho tôi được về đảnh lễ Phật và chư Tổ tại Chùa Viên Giác Hannover, cơ sở trung ương của Giáo Hội, là chiếc nôi và đầu tàu của Phật giáo Việt Nam tại nước Đức.

Tâm nguyện của tôi chỉ có như thế. Rất mong thay…”

       Và lời dạy cuối cùng trước khi về Phật:

“Tinh tấn tu hành, nghiêm minh giới luật, vui sống lục hòa, từ bi với mọi loài chúng sanh, làm được những hạnh nguyện đó có nghĩa là chư Tổ và Thầy đang có mặt bên các con rồi đó….”

Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát…! 

       Nên đây là bài học đắc giá, do vậy Tôi chấp bút, vận tốc tác ứng, bài kệ đối thơ sau:

     “ Diệu Tâm Ứng Mật, Phạm Hạnh Bát Kỉnh, Khai Thông Nguồn Mạch, Pháp Tuệ Chân Như. Phương Hành Tâm Phật Địa.

       Nguyên Từ Mở Lối, Đức Quốc Khai Kiến,

Bảo Quang Ni Chúng, Trí Từ Dung Năng. Rạng Ngời Hương Thiền Tăng.”

     Giờ này, Tại Thiền thất Phổ Chiếu Xứ Hà Nội, xin vọng bái Phương xa nơi Phương Trượng Tổ đình Bảo quang, lưu nhục thân Ni Trưởng, kính nguyện Ni Trưởng Thuỳ từ nhã giám liên toà chứng minh..! 

NAM MÔ TỪ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG, TỨ THẬP TỨ THẾ, KHAI SƠN ĐỨC QUỐC BẢO QUANG NI TỰ, HÚY THƯỢNG NGUYÊN HẠ TỪ, TỰ DIỆU TÂM HÒA THƯỢNG NI GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM.

                 Tk: Thích Minh Thế

                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.

                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang 

                 Ngày 15-06-2021

                 Ngày Âm Lịch: 06-05- Tân Sửu.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9032)
Trúc Lâm Đại sĩ là vua thứ tư nhà Trần, con của Thánh Tông, lên ngôi ngày 12 tháng 2 năm Mậu dần (1278). Trước khi Đại sĩ ra đời, Nguyên Thánh Hoàng Thái hậu nằm mộng thấy thần nhân đưa cho hai lưỡi kiếm bảo : "Có lệnh của Thượng giới, cho phép ngươi được chọn lấy". Bỗng nhiên được kiếm, Thái hậu bất giác rất vui, nhân đó có thai. Những tháng dưỡng thai, nhà bếp dâng thức gì Thái hậu cứ dùng như thường, chẳng cần kiêng cử mà thai cũng chẳng sao.
09/04/2013(Xem: 11272)
Đọc qua các Thiền sư Việt Nam từ xưa đến nay, chưa thấy một người nào đã chinh phục được các hàng vương tôn, quý tộc, khiến cho họ tín nhiệm, quy y và ủng hộ hết mình như Thiền sư Pháp Loa. Sư là một con người tích cực hoạt động, suốt đời tận tụy phục vụ đạo pháp cho đến hơi thở cuối cùng. Điều đặc biệt quan tâm của Sư là ấn hành Đại Tạng kinh, do đó đã đề xuất, tiến hành và in xong bộ Đại Tạng kinh Việt Nam. Ngoài ra, Sư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thống nhất Phật giáo, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam, và Sư là người thứ nhất đúng ra thiết lập sổ bộ Tăng, Ni và tự viện trên khắp cả nước.
09/04/2013(Xem: 10216)
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan Hành khiển dưới triều Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên.
09/04/2013(Xem: 8906)
Truyền thống Phật giáo Việt Nam từ truớc đến nay vốn thiên về Phật giáo Phát triển hay Đại thừa; mãi đến năm 1959 lần đầu tiên bộ kinh Trường A Hàm do Hòa thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch được xuất bản thì Phật giáo Nguyên thủy mới được các Phật tử chú ý đến. Mặc dù bộ kinh này nằm trong Hán tạng thuộc hệ thống Phật giáo Phát triển, nhưng tinh thần của nó thì tương quan mật thiết với 5 bộ Nikàya trong giáo lý Nguyên thủy.
09/04/2013(Xem: 8595)
Phương Tây có câu tục ngữ "Hoạn nạn làm lớn con người". Phương Đông cũng có câu danh ngôn tương tự "Ngậm cay đắng trong cay đắng mới làm con người trên loài Người". Trường hợp của Trần Thái Tông sao mà ứng với hai câu này đến thế?
09/04/2013(Xem: 9173)
Hòa thượng Thích Thiện Châu Nguyên Đạo (Đọc tại buổi lễ tưởng niệm và lễ Trà Tỳ Hòa thượng Thích Thiện Châu) Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1931 tức ngày 7 tháng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần.
09/04/2013(Xem: 36339)
Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn Văn Hương và cụ Trần Thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ 10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái.
09/04/2013(Xem: 10750)
Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, thế danh Vũ Văn Khang, sinh ngày 23/12/1921 (Tân Dậu), tại làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Cụ Ông Vũ Đức Khanh, thân mẫu là Cụ Bà Đỗ Thị Thinh. Hoà thượng có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái. Ngài là con thứ 4 trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 8556)
Lý Càn Đức (Bính Ngọ 1066 - Mậu Thân 1128) là vua thứ 4 nhà Lý, con trai duy nhất của vua Lý Thánh Tông và Ỷ Lan phu nhân tức Linh Nhân hoàng hậu. Càn Đức sinh ra ở Cung Động Tiên, gác Du Thiềm (gác thưởng Trăng) vào tháng Giêng năm Bính Ngọ, niên hiệu Chương Thánh năm thứ 8 (23-2-1066), hồi vua Thánh Tông đã ngoài 40 tuổi. Một ngày sau ngày sinh thì được lập làm Thái tử, 6 tuổi vua cha mất, được tôn làm vua, tức vua Lý Nhân Tông. Vua có tướng hảo, tâm hiền, bản chất thông minh dũng lược.
09/04/2013(Xem: 9450)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con người và sự nghiệp Lý Công Uẩn. Giá trị lịch sử của một con người không chỉ ảnh hưởng đến tự thân mà dư âm giá trị lịch sử của con người đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến muôn người khác từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và quả thật, Vạn Hạnh Thiền sư là người có công rất lớn trong việc khai sáng ra triều đại nhà Lý thì Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên thực thi tinh thần Vạn Hạnh bằng tất cả sự thể nhập "Đạo Pháp - Dân tộc" trong một thực thể duy nhất.