Tổ Đức Niệm Ân

20/12/202010:18(Xem: 6299)
Tổ Đức Niệm Ân

To Minh Hai
TỔ ĐỨC NIỆM ÂN

Bài tưởng niệm lê húy kỵ Tổ sư Minh Hải - Pháp Bảo (7/11 al)


Kính lạy giác linh Tổ sư:

Chúng con đã từng nghe:

Đồng An xưa, thác  sanh thai thánh

Dòng Lương Thị, quang huy ấu đồng.

Tuyền Châu hun đúc ngọn từ phong.

Phước Kiến ân triêm nguồn pháp vũ.

Rồi từ đó:

THẾ giới bao la, sáng  ngời  tinh tú

ÂN sư cao cả, bừng trổi đàm hoa.

Tướng hảo dung hòa

Từ trí viên mãn.

Nghiệp bút nghiên sáng lạng

Nếp nho gia miên trường.

Ôi thôi,

Cảnh quốc gia chinh chiến thê lương.

Cõi Diêm phù thăng trầm ảo não.

Do đó

Muốn học đạo thanh cao

Muốn quy hồi giác ngạn.

Nối mạch Phật pháp nghiêm trang

Kế thừa Thiệu long Thánh chủng

Lâm Tế đồng phụng

Báo Tư tục truyền..

Ba y một bát tùy duyên

Ngũ diệp nhất hoa mật chứng.

Minh Hải vô tận, cảnh giới hằng sa vui mừng.

Pháp Bảo thiền môn, long tượng uy nghi tráng lệ

Cơ duyên hóa độ:

Từ giã nhà quê

Lễ tạ sư tổ

Đáp ân thỉnh cầu, Đại Việt Quốc Chủ

Vượt biển hoằng hóa, khai trí An Nam.

Chấn tích hải khẩu Thuận An

Kiến tạo đàn tràng Linh Mụ.

Đương vi Xà – Lê truyền thụ

Chấp chỉnh Y - Chỉ giới sư.

Ban bố tâm từ

Rũ lòng thương cảm

Vì vậy

Kiến tạo Chúc Thánh già lam

Chấn tích Hội An cổ thị.

Phát khởi thanh quy

Hóa độ phàm chúng.

Tăng tướng ung dung

Thể tánh tự tại.

Tiếng hét Lâm Tế, vang vọng bên tai

Đả trượng Mã Tổ, diệu ngộ căn  trí.

Thế độ đệ tử oai nghi

Chơn truyền tử tôn thiệu thống.

Như:

Chánh Hiển, Chánh Hiền, Chánh Trí, Chánh Thông

Thiệt Úy, Thiệt Uyên, Thiệt Lương, Thiệt Mẫn.

Quả là

Thiệu Thống Trường Long

Miên Diên Vĩnh Cửu.

Rạng danh sự nghiệp đức Tổ

Sáng ngời công nghĩa Ân sư.

Xin ngài thùy từ

Kim liên tọa hạ

Chứng minh tâm thành chúng con

Đôi dòng thơ ca cung tán.

Nay con ngưỡng nguyện lễ bạt

Năm vóc sát đất kính dâng.

Ngũ phần tâm hương

Hòa nam, khể thủ.

 

Kim Vị - Lâm Tế chánh tông tam thập tứ thế, nguyên Sắc tứ Báo Tư – Thiên Đồng sơn môn, Đồng An nguyên sanh, Lê Triều Quốc vương ngự tứ ân ban, khai sơn Sắc Tứ Chúc Thánh tổ đình, húy thượng Minh hạ Hải, hiệu  Đắc Trí, thụy Pháp Bảo, Thỉ tổ Lão Hòa thượng giác linh thùy từ chứng giám.

Phụng vì, sắc tứ Chúc Thánh Tổ đình, lịch đại Tổ Sư Bồ Tát, tác đại chứng minh.

 

Đà Thành, Trọng Đông

Nhĩ tôn

Đinh Tâm An ( Đinh Công Thanh Minh)

Cung kính bái đề.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/06/2012(Xem: 25276)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8596)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9863)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18302)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 18045)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 11156)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 25163)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9065)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12399)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9227)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1