Tổ Đức Niệm Ân

20/12/202010:18(Xem: 6338)
Tổ Đức Niệm Ân

To Minh Hai
TỔ ĐỨC NIỆM ÂN

Bài tưởng niệm lê húy kỵ Tổ sư Minh Hải - Pháp Bảo (7/11 al)


Kính lạy giác linh Tổ sư:

Chúng con đã từng nghe:

Đồng An xưa, thác  sanh thai thánh

Dòng Lương Thị, quang huy ấu đồng.

Tuyền Châu hun đúc ngọn từ phong.

Phước Kiến ân triêm nguồn pháp vũ.

Rồi từ đó:

THẾ giới bao la, sáng  ngời  tinh tú

ÂN sư cao cả, bừng trổi đàm hoa.

Tướng hảo dung hòa

Từ trí viên mãn.

Nghiệp bút nghiên sáng lạng

Nếp nho gia miên trường.

Ôi thôi,

Cảnh quốc gia chinh chiến thê lương.

Cõi Diêm phù thăng trầm ảo não.

Do đó

Muốn học đạo thanh cao

Muốn quy hồi giác ngạn.

Nối mạch Phật pháp nghiêm trang

Kế thừa Thiệu long Thánh chủng

Lâm Tế đồng phụng

Báo Tư tục truyền..

Ba y một bát tùy duyên

Ngũ diệp nhất hoa mật chứng.

Minh Hải vô tận, cảnh giới hằng sa vui mừng.

Pháp Bảo thiền môn, long tượng uy nghi tráng lệ

Cơ duyên hóa độ:

Từ giã nhà quê

Lễ tạ sư tổ

Đáp ân thỉnh cầu, Đại Việt Quốc Chủ

Vượt biển hoằng hóa, khai trí An Nam.

Chấn tích hải khẩu Thuận An

Kiến tạo đàn tràng Linh Mụ.

Đương vi Xà – Lê truyền thụ

Chấp chỉnh Y - Chỉ giới sư.

Ban bố tâm từ

Rũ lòng thương cảm

Vì vậy

Kiến tạo Chúc Thánh già lam

Chấn tích Hội An cổ thị.

Phát khởi thanh quy

Hóa độ phàm chúng.

Tăng tướng ung dung

Thể tánh tự tại.

Tiếng hét Lâm Tế, vang vọng bên tai

Đả trượng Mã Tổ, diệu ngộ căn  trí.

Thế độ đệ tử oai nghi

Chơn truyền tử tôn thiệu thống.

Như:

Chánh Hiển, Chánh Hiền, Chánh Trí, Chánh Thông

Thiệt Úy, Thiệt Uyên, Thiệt Lương, Thiệt Mẫn.

Quả là

Thiệu Thống Trường Long

Miên Diên Vĩnh Cửu.

Rạng danh sự nghiệp đức Tổ

Sáng ngời công nghĩa Ân sư.

Xin ngài thùy từ

Kim liên tọa hạ

Chứng minh tâm thành chúng con

Đôi dòng thơ ca cung tán.

Nay con ngưỡng nguyện lễ bạt

Năm vóc sát đất kính dâng.

Ngũ phần tâm hương

Hòa nam, khể thủ.

 

Kim Vị - Lâm Tế chánh tông tam thập tứ thế, nguyên Sắc tứ Báo Tư – Thiên Đồng sơn môn, Đồng An nguyên sanh, Lê Triều Quốc vương ngự tứ ân ban, khai sơn Sắc Tứ Chúc Thánh tổ đình, húy thượng Minh hạ Hải, hiệu  Đắc Trí, thụy Pháp Bảo, Thỉ tổ Lão Hòa thượng giác linh thùy từ chứng giám.

Phụng vì, sắc tứ Chúc Thánh Tổ đình, lịch đại Tổ Sư Bồ Tát, tác đại chứng minh.

 

Đà Thành, Trọng Đông

Nhĩ tôn

Đinh Tâm An ( Đinh Công Thanh Minh)

Cung kính bái đề.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10945)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13584)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8863)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14927)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8581)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9051)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10238)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8982)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 15171)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.
09/04/2013(Xem: 11836)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.