Tổ Đức Niệm Ân

20/12/202010:18(Xem: 6341)
Tổ Đức Niệm Ân

To Minh Hai
TỔ ĐỨC NIỆM ÂN

Bài tưởng niệm lê húy kỵ Tổ sư Minh Hải - Pháp Bảo (7/11 al)


Kính lạy giác linh Tổ sư:

Chúng con đã từng nghe:

Đồng An xưa, thác  sanh thai thánh

Dòng Lương Thị, quang huy ấu đồng.

Tuyền Châu hun đúc ngọn từ phong.

Phước Kiến ân triêm nguồn pháp vũ.

Rồi từ đó:

THẾ giới bao la, sáng  ngời  tinh tú

ÂN sư cao cả, bừng trổi đàm hoa.

Tướng hảo dung hòa

Từ trí viên mãn.

Nghiệp bút nghiên sáng lạng

Nếp nho gia miên trường.

Ôi thôi,

Cảnh quốc gia chinh chiến thê lương.

Cõi Diêm phù thăng trầm ảo não.

Do đó

Muốn học đạo thanh cao

Muốn quy hồi giác ngạn.

Nối mạch Phật pháp nghiêm trang

Kế thừa Thiệu long Thánh chủng

Lâm Tế đồng phụng

Báo Tư tục truyền..

Ba y một bát tùy duyên

Ngũ diệp nhất hoa mật chứng.

Minh Hải vô tận, cảnh giới hằng sa vui mừng.

Pháp Bảo thiền môn, long tượng uy nghi tráng lệ

Cơ duyên hóa độ:

Từ giã nhà quê

Lễ tạ sư tổ

Đáp ân thỉnh cầu, Đại Việt Quốc Chủ

Vượt biển hoằng hóa, khai trí An Nam.

Chấn tích hải khẩu Thuận An

Kiến tạo đàn tràng Linh Mụ.

Đương vi Xà – Lê truyền thụ

Chấp chỉnh Y - Chỉ giới sư.

Ban bố tâm từ

Rũ lòng thương cảm

Vì vậy

Kiến tạo Chúc Thánh già lam

Chấn tích Hội An cổ thị.

Phát khởi thanh quy

Hóa độ phàm chúng.

Tăng tướng ung dung

Thể tánh tự tại.

Tiếng hét Lâm Tế, vang vọng bên tai

Đả trượng Mã Tổ, diệu ngộ căn  trí.

Thế độ đệ tử oai nghi

Chơn truyền tử tôn thiệu thống.

Như:

Chánh Hiển, Chánh Hiền, Chánh Trí, Chánh Thông

Thiệt Úy, Thiệt Uyên, Thiệt Lương, Thiệt Mẫn.

Quả là

Thiệu Thống Trường Long

Miên Diên Vĩnh Cửu.

Rạng danh sự nghiệp đức Tổ

Sáng ngời công nghĩa Ân sư.

Xin ngài thùy từ

Kim liên tọa hạ

Chứng minh tâm thành chúng con

Đôi dòng thơ ca cung tán.

Nay con ngưỡng nguyện lễ bạt

Năm vóc sát đất kính dâng.

Ngũ phần tâm hương

Hòa nam, khể thủ.

 

Kim Vị - Lâm Tế chánh tông tam thập tứ thế, nguyên Sắc tứ Báo Tư – Thiên Đồng sơn môn, Đồng An nguyên sanh, Lê Triều Quốc vương ngự tứ ân ban, khai sơn Sắc Tứ Chúc Thánh tổ đình, húy thượng Minh hạ Hải, hiệu  Đắc Trí, thụy Pháp Bảo, Thỉ tổ Lão Hòa thượng giác linh thùy từ chứng giám.

Phụng vì, sắc tứ Chúc Thánh Tổ đình, lịch đại Tổ Sư Bồ Tát, tác đại chứng minh.

 

Đà Thành, Trọng Đông

Nhĩ tôn

Đinh Tâm An ( Đinh Công Thanh Minh)

Cung kính bái đề.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9528)
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan Hành khiển dưới triều Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên.
09/04/2013(Xem: 8708)
Truyền thống Phật giáo Việt Nam từ truớc đến nay vốn thiên về Phật giáo Phát triển hay Đại thừa; mãi đến năm 1959 lần đầu tiên bộ kinh Trường A Hàm do Hòa thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch được xuất bản thì Phật giáo Nguyên thủy mới được các Phật tử chú ý đến. Mặc dù bộ kinh này nằm trong Hán tạng thuộc hệ thống Phật giáo Phát triển, nhưng tinh thần của nó thì tương quan mật thiết với 5 bộ Nikàya trong giáo lý Nguyên thủy.
09/04/2013(Xem: 8458)
Phương Tây có câu tục ngữ "Hoạn nạn làm lớn con người". Phương Đông cũng có câu danh ngôn tương tự "Ngậm cay đắng trong cay đắng mới làm con người trên loài Người". Trường hợp của Trần Thái Tông sao mà ứng với hai câu này đến thế?
09/04/2013(Xem: 8895)
Hòa thượng Thích Thiện Châu Nguyên Đạo (Đọc tại buổi lễ tưởng niệm và lễ Trà Tỳ Hòa thượng Thích Thiện Châu) Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1931 tức ngày 7 tháng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần.
09/04/2013(Xem: 35987)
Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn Văn Hương và cụ Trần Thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ 10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái.
09/04/2013(Xem: 10435)
Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, thế danh Vũ Văn Khang, sinh ngày 23/12/1921 (Tân Dậu), tại làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Cụ Ông Vũ Đức Khanh, thân mẫu là Cụ Bà Đỗ Thị Thinh. Hoà thượng có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái. Ngài là con thứ 4 trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 8405)
Lý Càn Đức (Bính Ngọ 1066 - Mậu Thân 1128) là vua thứ 4 nhà Lý, con trai duy nhất của vua Lý Thánh Tông và Ỷ Lan phu nhân tức Linh Nhân hoàng hậu. Càn Đức sinh ra ở Cung Động Tiên, gác Du Thiềm (gác thưởng Trăng) vào tháng Giêng năm Bính Ngọ, niên hiệu Chương Thánh năm thứ 8 (23-2-1066), hồi vua Thánh Tông đã ngoài 40 tuổi. Một ngày sau ngày sinh thì được lập làm Thái tử, 6 tuổi vua cha mất, được tôn làm vua, tức vua Lý Nhân Tông. Vua có tướng hảo, tâm hiền, bản chất thông minh dũng lược.
09/04/2013(Xem: 9262)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con người và sự nghiệp Lý Công Uẩn. Giá trị lịch sử của một con người không chỉ ảnh hưởng đến tự thân mà dư âm giá trị lịch sử của con người đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến muôn người khác từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và quả thật, Vạn Hạnh Thiền sư là người có công rất lớn trong việc khai sáng ra triều đại nhà Lý thì Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên thực thi tinh thần Vạn Hạnh bằng tất cả sự thể nhập "Đạo Pháp - Dân tộc" trong một thực thể duy nhất.
09/04/2013(Xem: 17056)
Có lần trong tù, đói quá, Thầy Quảng Độ nằm mơ thấy được nhà bếp cho một cái bánh bao. Ăn xong thấy bụng căng thẳng, no nê, rất hạnh phúc. Sự thật là đêm ấy, trước khi đi ngủ, vì đói quá nên thấy uống nước cho đầy bụng dễ ngủ. Và Thầy đã đái dầm ra quần. Sáng hôm đó Thầy có làm một bài thơ.
09/04/2013(Xem: 9210)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...