Hương Từ Đức Lâm.

05/10/202020:27(Xem: 4193)
Hương Từ Đức Lâm.
Hương Từ Đức Lâm.

An nhiên giữa cõi nhân gian,
Đến đi giấc mộng, chốn ngàn thiên thu.
Bái hầu tịnh cảnh Huân tu,
Thiền môn không giác, hương từ Đức Lâm.

Bậc Thầy Thiện Giải nhân Tâm,
Tiếp nuôi Tăng Chúng, giữ tầm pháp y.
Nam- Trung - Bắc độ phương kỳ,
Ngài gian tay đón, lối Đi Hoằng truyền.

Hương Đức nguyện giữ chân nguyên,
Tài Tăng cứu độ, vững thuyền chèo duyên.
Nuôi Tình Đức nguyện thiền viên,
Cưỡi thương hạt nắng, giữa niềm nhạn bay.

Trứ danh kinh luật tầm Thầy,
Nghe hương nuôi chúng, tháng ngày học Tăng.
Cao - Trung - Đại Học, vầng trăng,
Ngài Ôn hạnh tuệ, gởi tầm hương thơm.

Suốt đời thanh đạm giản đơn,
Tay lần hạt trí, sáng hơn sáu thời.
Trì niệm luật, hành tịnh phơi,
Năm Ngàn Ngài phát, duyên người xuất gia.

Đức Lâm chốn tổ ngân ba,
Thiền đường Tăng chúng, dung hoà nghiêm bi.
Ngài Giải Thiện nếm khắc ghi,
Nương triều Hải chúng, chẳng bì chi ai.

Tám mươi năm cuộc sắc phai
Năm mươi Hạ tịnh, danh tài Thiền Tăng.
Một đời niệm Phật y vàng,
Trang nghiêm công hạnh, ngộ trăng liên trì.

Đời phó thác xã ra đi,
Đạo tràng truyền giới, dung nghi ấn Huyền.
Bái Tăng chúng trút hơi nguyên,
Lên thuyền về tịnh, y thiền giã chân.

Đức Lâm nhớ dáng thừa ân,
Ngài Giải Thiện ngự, kết nhân Di Đà.
Hương sen pháp phục y toà,
Liên Thuỳ dung dáng, ngôi nhà Nhất Tâm.

Cung kính khể thủ lễ, Ngài Giải Thiện, viện chủ chùa Đức Lâm, nếu ai một lần nhân duyên diện kiến thức trúc về danh hương của Ngài, thì không một vị học Tăng thời bấy giờ không nhắc đến.
Hạnh nguyện của Ngài là gian tay đón tất cả các Tăng sinh trẻ vào Sài Gòn tu học, tham cầu học vấn từ các trường Cao- Trung- Đại Học, giữa đời Đạo song tu.
Tất cả học Tăng thời ấy, giờ các vị rãi khắp cả Bắc Trung Nam, ra tận các nước.
Có vị giữ gìn chiếc áo, có vị bỏ áo trước hiên chùa, trao y pháp lại cho thầy tổ, có vị thì thành danh tri nỉ, nhờ lời dạy của Ngài mà tự chọn, đến đi như ngàn mây trắng, không vướng nhạn Hồng duyên.
Chúng con Tk: Thích Minh Thế có nhân duyên diện kiến Ngài được hai lần.
Vào tháng ba năm 2007, và tháng năm năm 2009, tại Đức Lâm và Chùa Chơn Giác Nhà Bè- Tphcm.
Mỗi khi gặp Ngài, với nụ cười hiền hậu, dung nghi đỉnh đạt, Ngài gặp chúng con và dạy rằng:
       “Tu và Học như duyên thiền tập, giữ tâm mình mới thấy Tầm và Tứ tu thân.
         Tu và xã như chính nó là pháp, vận hành thiện trong Tam nghiệp, vận hành chuyển hoá, mới thấy được Bát Chánh Đạo đi về.
         Tu và Nguyện như chính nó là giới, chuyển thức và tánh mới nhiếp tâm, ai là vị tu sĩ, bỏ tham danh tài sắc vọng niệm vị ấy sẽ như nhạn ảnh Huyền không, chẳng bận lòng trông nhiễm cầu tài Lư trú, như giã cùng tử lang thang. Chính mình tu con nhé...”
Chúng con chấp tay lắng nghe, lời pháp.
Thế rồi, Ngài đọc cho chúng con nghe mấy vần thơ:
            “ Tu như áo cõi Hồng,
              Niệm như rót không không.
             An nhiên trong giới trụ.
             Chớ ái nhiễm phiêu bồng.”
Chúng con ghi nhớ, mỗi lần gặp Ngài, thì tâm mình luôn an...!
Chúng con ghi mãi, và nhớ những gì Ngài dạy, sẽ ghi trong những dấu chân tu bụi chúng con được học.
Hạnh nguyện chúng con học mãi, hễ ai đi tụng Kinh Ngài liền quân phân Năm ngàn cho học Tăng, hiểu được tâm trạng nên các học Tăng thời ấy luôn duy trì tinh tấn. Không biến trễ khỏi bỏ phí phụ công.
Giờ này, chúng con chấp Tay bái biệt Ngài, hồi quy cảnh tịnh liên Thuỳ thượng đăng.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 03-10-2020.
                 Ngày Âm Lịch: 17-08-Canh Tý.
Viết tại Thiền Thất Phổ Tịnh thiền vi- Hà nội trong những gió thu về phất đầy hương sữa tình tôi..!

Hương Từ Đức Lâm-3
Long vị và Tôn dung Ngài Giải Thiện - Trú Trì Đức Lâm Tự- Tân Bình- Tphcm.
Hương Từ Đức Lâm-1
Pháp tướng di ảnh Tôn Dung Ngài Giải Thiện ( 1941-2020 ).
Hương Từ Đức Lâm-2
Ngôi Tam bảo Đức Lâm, một thời Ngài là vị trú trì..!
Hương Từ Đức Lâm-4
Dung Nghi Hình Ảnh Ngài..
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10272)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10065)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12872)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8700)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14709)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8394)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8915)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10109)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8802)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14477)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.