Hương Từ Đức Lâm.

05/10/202020:27(Xem: 4191)
Hương Từ Đức Lâm.
Hương Từ Đức Lâm.

An nhiên giữa cõi nhân gian,
Đến đi giấc mộng, chốn ngàn thiên thu.
Bái hầu tịnh cảnh Huân tu,
Thiền môn không giác, hương từ Đức Lâm.

Bậc Thầy Thiện Giải nhân Tâm,
Tiếp nuôi Tăng Chúng, giữ tầm pháp y.
Nam- Trung - Bắc độ phương kỳ,
Ngài gian tay đón, lối Đi Hoằng truyền.

Hương Đức nguyện giữ chân nguyên,
Tài Tăng cứu độ, vững thuyền chèo duyên.
Nuôi Tình Đức nguyện thiền viên,
Cưỡi thương hạt nắng, giữa niềm nhạn bay.

Trứ danh kinh luật tầm Thầy,
Nghe hương nuôi chúng, tháng ngày học Tăng.
Cao - Trung - Đại Học, vầng trăng,
Ngài Ôn hạnh tuệ, gởi tầm hương thơm.

Suốt đời thanh đạm giản đơn,
Tay lần hạt trí, sáng hơn sáu thời.
Trì niệm luật, hành tịnh phơi,
Năm Ngàn Ngài phát, duyên người xuất gia.

Đức Lâm chốn tổ ngân ba,
Thiền đường Tăng chúng, dung hoà nghiêm bi.
Ngài Giải Thiện nếm khắc ghi,
Nương triều Hải chúng, chẳng bì chi ai.

Tám mươi năm cuộc sắc phai
Năm mươi Hạ tịnh, danh tài Thiền Tăng.
Một đời niệm Phật y vàng,
Trang nghiêm công hạnh, ngộ trăng liên trì.

Đời phó thác xã ra đi,
Đạo tràng truyền giới, dung nghi ấn Huyền.
Bái Tăng chúng trút hơi nguyên,
Lên thuyền về tịnh, y thiền giã chân.

Đức Lâm nhớ dáng thừa ân,
Ngài Giải Thiện ngự, kết nhân Di Đà.
Hương sen pháp phục y toà,
Liên Thuỳ dung dáng, ngôi nhà Nhất Tâm.

Cung kính khể thủ lễ, Ngài Giải Thiện, viện chủ chùa Đức Lâm, nếu ai một lần nhân duyên diện kiến thức trúc về danh hương của Ngài, thì không một vị học Tăng thời bấy giờ không nhắc đến.
Hạnh nguyện của Ngài là gian tay đón tất cả các Tăng sinh trẻ vào Sài Gòn tu học, tham cầu học vấn từ các trường Cao- Trung- Đại Học, giữa đời Đạo song tu.
Tất cả học Tăng thời ấy, giờ các vị rãi khắp cả Bắc Trung Nam, ra tận các nước.
Có vị giữ gìn chiếc áo, có vị bỏ áo trước hiên chùa, trao y pháp lại cho thầy tổ, có vị thì thành danh tri nỉ, nhờ lời dạy của Ngài mà tự chọn, đến đi như ngàn mây trắng, không vướng nhạn Hồng duyên.
Chúng con Tk: Thích Minh Thế có nhân duyên diện kiến Ngài được hai lần.
Vào tháng ba năm 2007, và tháng năm năm 2009, tại Đức Lâm và Chùa Chơn Giác Nhà Bè- Tphcm.
Mỗi khi gặp Ngài, với nụ cười hiền hậu, dung nghi đỉnh đạt, Ngài gặp chúng con và dạy rằng:
       “Tu và Học như duyên thiền tập, giữ tâm mình mới thấy Tầm và Tứ tu thân.
         Tu và xã như chính nó là pháp, vận hành thiện trong Tam nghiệp, vận hành chuyển hoá, mới thấy được Bát Chánh Đạo đi về.
         Tu và Nguyện như chính nó là giới, chuyển thức và tánh mới nhiếp tâm, ai là vị tu sĩ, bỏ tham danh tài sắc vọng niệm vị ấy sẽ như nhạn ảnh Huyền không, chẳng bận lòng trông nhiễm cầu tài Lư trú, như giã cùng tử lang thang. Chính mình tu con nhé...”
Chúng con chấp tay lắng nghe, lời pháp.
Thế rồi, Ngài đọc cho chúng con nghe mấy vần thơ:
            “ Tu như áo cõi Hồng,
              Niệm như rót không không.
             An nhiên trong giới trụ.
             Chớ ái nhiễm phiêu bồng.”
Chúng con ghi nhớ, mỗi lần gặp Ngài, thì tâm mình luôn an...!
Chúng con ghi mãi, và nhớ những gì Ngài dạy, sẽ ghi trong những dấu chân tu bụi chúng con được học.
Hạnh nguyện chúng con học mãi, hễ ai đi tụng Kinh Ngài liền quân phân Năm ngàn cho học Tăng, hiểu được tâm trạng nên các học Tăng thời ấy luôn duy trì tinh tấn. Không biến trễ khỏi bỏ phí phụ công.
Giờ này, chúng con chấp Tay bái biệt Ngài, hồi quy cảnh tịnh liên Thuỳ thượng đăng.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 03-10-2020.
                 Ngày Âm Lịch: 17-08-Canh Tý.
Viết tại Thiền Thất Phổ Tịnh thiền vi- Hà nội trong những gió thu về phất đầy hương sữa tình tôi..!

Hương Từ Đức Lâm-3
Long vị và Tôn dung Ngài Giải Thiện - Trú Trì Đức Lâm Tự- Tân Bình- Tphcm.
Hương Từ Đức Lâm-1
Pháp tướng di ảnh Tôn Dung Ngài Giải Thiện ( 1941-2020 ).
Hương Từ Đức Lâm-2
Ngôi Tam bảo Đức Lâm, một thời Ngài là vị trú trì..!
Hương Từ Đức Lâm-4
Dung Nghi Hình Ảnh Ngài..
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10845)
Đọc qua các Thiền sư Việt Nam từ xưa đến nay, chưa thấy một người nào đã chinh phục được các hàng vương tôn, quý tộc, khiến cho họ tín nhiệm, quy y và ủng hộ hết mình như Thiền sư Pháp Loa. Sư là một con người tích cực hoạt động, suốt đời tận tụy phục vụ đạo pháp cho đến hơi thở cuối cùng. Điều đặc biệt quan tâm của Sư là ấn hành Đại Tạng kinh, do đó đã đề xuất, tiến hành và in xong bộ Đại Tạng kinh Việt Nam. Ngoài ra, Sư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thống nhất Phật giáo, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam, và Sư là người thứ nhất đúng ra thiết lập sổ bộ Tăng, Ni và tự viện trên khắp cả nước.
09/04/2013(Xem: 9464)
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan Hành khiển dưới triều Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên.
09/04/2013(Xem: 8668)
Truyền thống Phật giáo Việt Nam từ truớc đến nay vốn thiên về Phật giáo Phát triển hay Đại thừa; mãi đến năm 1959 lần đầu tiên bộ kinh Trường A Hàm do Hòa thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch được xuất bản thì Phật giáo Nguyên thủy mới được các Phật tử chú ý đến. Mặc dù bộ kinh này nằm trong Hán tạng thuộc hệ thống Phật giáo Phát triển, nhưng tinh thần của nó thì tương quan mật thiết với 5 bộ Nikàya trong giáo lý Nguyên thủy.
09/04/2013(Xem: 8415)
Phương Tây có câu tục ngữ "Hoạn nạn làm lớn con người". Phương Đông cũng có câu danh ngôn tương tự "Ngậm cay đắng trong cay đắng mới làm con người trên loài Người". Trường hợp của Trần Thái Tông sao mà ứng với hai câu này đến thế?
09/04/2013(Xem: 8690)
Hòa thượng Thích Thiện Châu Nguyên Đạo (Đọc tại buổi lễ tưởng niệm và lễ Trà Tỳ Hòa thượng Thích Thiện Châu) Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1931 tức ngày 7 tháng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần.
09/04/2013(Xem: 35725)
Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn Văn Hương và cụ Trần Thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ 10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái.
09/04/2013(Xem: 10300)
Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, thế danh Vũ Văn Khang, sinh ngày 23/12/1921 (Tân Dậu), tại làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Cụ Ông Vũ Đức Khanh, thân mẫu là Cụ Bà Đỗ Thị Thinh. Hoà thượng có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái. Ngài là con thứ 4 trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 8353)
Lý Càn Đức (Bính Ngọ 1066 - Mậu Thân 1128) là vua thứ 4 nhà Lý, con trai duy nhất của vua Lý Thánh Tông và Ỷ Lan phu nhân tức Linh Nhân hoàng hậu. Càn Đức sinh ra ở Cung Động Tiên, gác Du Thiềm (gác thưởng Trăng) vào tháng Giêng năm Bính Ngọ, niên hiệu Chương Thánh năm thứ 8 (23-2-1066), hồi vua Thánh Tông đã ngoài 40 tuổi. Một ngày sau ngày sinh thì được lập làm Thái tử, 6 tuổi vua cha mất, được tôn làm vua, tức vua Lý Nhân Tông. Vua có tướng hảo, tâm hiền, bản chất thông minh dũng lược.
09/04/2013(Xem: 9202)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con người và sự nghiệp Lý Công Uẩn. Giá trị lịch sử của một con người không chỉ ảnh hưởng đến tự thân mà dư âm giá trị lịch sử của con người đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến muôn người khác từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và quả thật, Vạn Hạnh Thiền sư là người có công rất lớn trong việc khai sáng ra triều đại nhà Lý thì Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên thực thi tinh thần Vạn Hạnh bằng tất cả sự thể nhập "Đạo Pháp - Dân tộc" trong một thực thể duy nhất.
09/04/2013(Xem: 16573)
Có lần trong tù, đói quá, Thầy Quảng Độ nằm mơ thấy được nhà bếp cho một cái bánh bao. Ăn xong thấy bụng căng thẳng, no nê, rất hạnh phúc. Sự thật là đêm ấy, trước khi đi ngủ, vì đói quá nên thấy uống nước cho đầy bụng dễ ngủ. Và Thầy đã đái dầm ra quần. Sáng hôm đó Thầy có làm một bài thơ.