Dấu Chân Trần.

22/06/202020:02(Xem: 5819)
Dấu Chân Trần.
ht luu thanh 1

Dấu Chân Trần.


Dấu Chân Trần Như Áng Mây Bay
Âm ba sóng tịnh gió trăng đầy
Phiêu du hải ngạn nguồn thi phẩm
Đọng lại Tâm Cang Dáng dung Thầy.

Hình ảnh dung dị tư chất nhân từ của Trưởng Lão Hoà Thượng, dấu chân người từng Thăm viếng các vị Tôn túc, như Sài gòn , Đồng Nai, Lâm Đồng, Đà Nẳng, Quảng Bình, Tư Gia Nhà Ôn phụng Thờ Tiên Tổ, Ôn Có Một Người Bào Đệ đồng xuất gia, Ôn Đã từng vân du khắp xứ Bắc, và các tỉnh trong cả nước, khi thì thuyết pháp, khi thì đăng đàn khoa chẩn, khi thì Bạt vớt trầm luân cho Hương linh, khi thì Đạo từ, khi thì chứng minh trai lễ, Già Lam, Pháp Vân, Vạn Phước, Linh Quang, Linh Sơn Nha Trang.

Các Gia Đình Phật Tử Hà Cảng, Thừa Thiên Ai ai cũng cung kính.
Dấu Chân của Ôn Đến Cộng Hoà Liên Bang Nga, vân du khắp xứ lưu ảnh, được sự Cung Thỉnh Bộ Ngoại Giao Đặt Xứ Toàn Quyền bấy giờ, Ngài Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn cung Thỉnh Ôn với Hoà Thượng Toàn Đức.
Hình ảnh Ôn vân du đến Tứ Đại Danh sơn- Trung Quốc.
Trong những năm 2013 con có nhân duyên hầu Ôn, Ôn Thái Hoà, Thượng Tọa Vân Pháp, Ni Trưởng Minh Tánh, Ni Sư Như Huy, Ni Sư Diệu Đáo, và Con Minh Thế.
Cùng chư vị thiện tín: Anh Trung Toàn, Pt: Hồng Liên, Nhuận Pháp Nguyên... và một số Phật tử thiện duyên đưa Ôn trở về 4 ngọn danh sơn: Ngũ Đài, Nga My, Cữu Hoa, Phổ Đà, một số nơi tùng lâm, danh sơn Đại Phật, nơi Đại Sư Ấn Quang dịch kinh tu niệm...
Hay thay, Ôn vân du đến Thăm một số tịnh viện CaNaDa, Mỹ Quốc, Miến Điện, Lào, Thái LanSingapore, vân trình theo dấu chân đến để ngắm nhìn trong niềm pháp lạc vô biên.
Được biết, Bào đệ của Ôn là Một vị giáo Thọ sư, Giảng Sư, Dịch Giả, nhà Thơ.
Đó là:
      ".......Hòa thượng thế danh Nguyễn Ngọc Khiết, Pháp danh Nguyên Quang, Pháp tự Thích Tín Đạo, bút hiệu Ngân Thanh; thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 44. Hòa thượng sinh năm Bính Tuất (1946) người làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Ngọc Chút pháp danh Nguyên Đại, thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Mài pháp danh Nguyên Khiết. Thầy sinh ra trong một gia đình mộ đạo và là em út của 5 chị anh. Trong đó có vị vừa là bào huynh vừa là pháp huynh là Hòa thượng Thích Lưu Thanh.
Năm 19 tuổi (1965) thầy phát tâm xuất gia tu học với cố Hòa thượng Thích Mật Hiển, Tổ đình Trúc Lâm Huế.
Năm 1967 được Bổn sư cho thọ Sa di phương trượng tại Tổ đình, trong  năm này Hòa thượng đã trúng tuyển vào kháo Cao đẳng chuyên khoa Phật học Liễu Quán tại chùa Linh Quang-Huế
Sau biến cố Mậu Thân 1968, Hòa thượng chuyển vào Phật Học viện Hải Đức - Nha Trang và tiếp tục chuyên trình học tập tại trường Trung học Bồ Đề - Nha Trang. Cũng năm này thầy đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Giới đàn Phật Học viện Hải Đức.
Sau khi tốt nghiệp Tú tài I, II được Học viện chuyển vào Sài Gòn, ở tại Tu viện Quảng Hương Già Lam và tiếp tục chương trình Đại học.


ht luu thanh 3ht luu thanh 5

Đã theo học Cử nhân tại các trường Đại học Văn khoa Sài Gòn và Đại học Vạn Hạnh.
Sau năm 1975, Hòa thượng về ẩn tu và sinh hoạt theo tinh thần Thiền nông của Tổ Bách Trượng tại chùa Như Pháp, huyện Tiểu Cần , tỉnh Trà Vinh.
Năm 1979 trở về trú xứ Già Lam, tiếp tục học khóa chuyên khoa bồi dưỡng Phật học Cao cấp. Trong thời gian này Hòa thượng được mời dạy môn Duy Thức Học cho lớp Ni sinh tổ chức tại chùa Già Lam, Từ Thuyền.
Năm 1987 Ni sư Trí Hải mời dạy Tư Tưởng Kinh Điển Đại Thừa tại Ni viện Tuệ Uyển, thuộc Phật Học viện Vạn Hạnh.
Năm 1990 nhận lời mời đến dạy tại Trường Cơ bản Phật học tỉnh Hậu Giang về môn sử Phật giáo.
Năm 1991 được mời thỉnh giảng môn Lịch sử và Tư Tưởng Phật giáo thuộc khoa Sử Địa, Đại học Cần Thơ.
Năm 1994 thầy giảng dạy tại các Trường Phật học Cần Thơ và Sóc Trăng.
Năm 1996 giảng dạy môn Sử Phật giáo cho các trường: Phật học Thiên Khánh và Thiên Phước tại Long An; cũng thời gian này Hòa thượng đã được mời dạy các trường Hạ chùa Kim Cang (Thủ Thừa), chùa Hòa Bình, chùa Bồ Đề (Cần Giuộc), tịnh thất An Hòa (Thủ Đức), Tịnh xá Trung Tâm, Tịnh xá Ngọc Phương thuộc hệ phái Khất sĩ ở Tp.Hồ Chí Minh.
Năm 1997, trường Cao đẳng và Trung cấp Phật học mời dạy môn Duy Thức Học và Tư Tưởng Đại Thừa tại chùa Vĩnh Nghiêm (Tp.Hồ Chí Minh).
Năm 1998, Giáo thọ sư bộ môn Duy Thức học cho lớp Cao Đẳng chuyên khoa Phật học Cần Thơ.
Năm 2003, thể theo lời mời của Hòa thượng Viện chủ chùa Trang Nghiêm tại Pakse. Hòa thượng đã sang thăm nươc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, trong dịp này thầy đã đi tham quan các danh lam thắng cảnh tại Thủ đô Viêng Chăn (Lào) và một số thắng cảnh tại Thái Lan.
Hòa thượng đã trở về Tổ đình đảnh lễ bảo thápTổ và Bổn sư. Thăm hỏi nhị vị Hòa thượng Pháp huynh. Sau đó Hòa thượng cũng đã nhờ con cháu đưa đi thăm viếng mộ phần của song thân và Tổ tiên ông bà.
Sau đó Hòa thượng trở lại Quảng Hương Già Lam để đảnh lễ niệm ân chư Tôn đức tại trú xứ đã hoan hỷ  cùng Hòa thượng tu học trong hơn 40 năm hành đạo tại niềm Nam.
Hòa thượng đã an nhiên thị tịch lúc 4 giờ 10 phút ngày mùng 8 tháng 6 năm Giáp Ngọ (4/7/2014): thọ 69 tuổi đời và 46 hạ lạp.
Một số tác phẩm đã thực hiện:
Diệu Huệ Dòng Nữ Kinh (dịch giảng và chú thích, 1984).
Tuệ Trung Thượng Sĩ (Thiền Học, 1993).
Để lại cho ai (Thi tập, 1968).
Nguồn suối êm đềm (Tập truyện ngắn, 1970).
Mây ngàn (Thi tập, 1988).
Màu hoa tưởng niệm (Nhạc).*
Và Một số dịch phẩm khác...."

       Cuộc đời của Ôn và Người Bào đệ của Ôn là tấm giương soi chiếu cho chúng con.
Ngoài ra Ôn cũng là vị giáo thọ sư cho các đại giới đàn. Hình ảnh dung dị, giọng ôn hơi lấp nhưng ai cũng cung kính tôn ngưỡng, vì hạnh tu Ba la mật.
Chúng con cung kính Bái biệt Ôn về cảnh Phật.
Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tứ Thế, Liễu Quán Pháp Phái, Xuân Kinh Trúc Lâm Đại Thánh Tự Đường Thượng, Huý thượng NGUYÊN hạ TỊNH, Tự LƯU THANH, Hiệu NGÂN BÌNH, Trưởng Lão Hoà Thượng Giác Linh.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 20-06-2020.
                 Ngày Âm Lịch: 29-04- Nhuận- Canh Tý.
.......
Ghi chú:
*: Trích Nguồn tiểu Sử Của Hoà thượng Tín Đạo- trang nhà Phật giáo Huế.vn.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 17993)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8575)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8758)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9704)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11500)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12920)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24228)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10217)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8648)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8564)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.