Dấu Chân Trần.

22/06/202020:02(Xem: 5898)
Dấu Chân Trần.
ht luu thanh 1

Dấu Chân Trần.


Dấu Chân Trần Như Áng Mây Bay
Âm ba sóng tịnh gió trăng đầy
Phiêu du hải ngạn nguồn thi phẩm
Đọng lại Tâm Cang Dáng dung Thầy.

Hình ảnh dung dị tư chất nhân từ của Trưởng Lão Hoà Thượng, dấu chân người từng Thăm viếng các vị Tôn túc, như Sài gòn , Đồng Nai, Lâm Đồng, Đà Nẳng, Quảng Bình, Tư Gia Nhà Ôn phụng Thờ Tiên Tổ, Ôn Có Một Người Bào Đệ đồng xuất gia, Ôn Đã từng vân du khắp xứ Bắc, và các tỉnh trong cả nước, khi thì thuyết pháp, khi thì đăng đàn khoa chẩn, khi thì Bạt vớt trầm luân cho Hương linh, khi thì Đạo từ, khi thì chứng minh trai lễ, Già Lam, Pháp Vân, Vạn Phước, Linh Quang, Linh Sơn Nha Trang.

Các Gia Đình Phật Tử Hà Cảng, Thừa Thiên Ai ai cũng cung kính.
Dấu Chân của Ôn Đến Cộng Hoà Liên Bang Nga, vân du khắp xứ lưu ảnh, được sự Cung Thỉnh Bộ Ngoại Giao Đặt Xứ Toàn Quyền bấy giờ, Ngài Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn cung Thỉnh Ôn với Hoà Thượng Toàn Đức.
Hình ảnh Ôn vân du đến Tứ Đại Danh sơn- Trung Quốc.
Trong những năm 2013 con có nhân duyên hầu Ôn, Ôn Thái Hoà, Thượng Tọa Vân Pháp, Ni Trưởng Minh Tánh, Ni Sư Như Huy, Ni Sư Diệu Đáo, và Con Minh Thế.
Cùng chư vị thiện tín: Anh Trung Toàn, Pt: Hồng Liên, Nhuận Pháp Nguyên... và một số Phật tử thiện duyên đưa Ôn trở về 4 ngọn danh sơn: Ngũ Đài, Nga My, Cữu Hoa, Phổ Đà, một số nơi tùng lâm, danh sơn Đại Phật, nơi Đại Sư Ấn Quang dịch kinh tu niệm...
Hay thay, Ôn vân du đến Thăm một số tịnh viện CaNaDa, Mỹ Quốc, Miến Điện, Lào, Thái LanSingapore, vân trình theo dấu chân đến để ngắm nhìn trong niềm pháp lạc vô biên.
Được biết, Bào đệ của Ôn là Một vị giáo Thọ sư, Giảng Sư, Dịch Giả, nhà Thơ.
Đó là:
      ".......Hòa thượng thế danh Nguyễn Ngọc Khiết, Pháp danh Nguyên Quang, Pháp tự Thích Tín Đạo, bút hiệu Ngân Thanh; thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 44. Hòa thượng sinh năm Bính Tuất (1946) người làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Ngọc Chút pháp danh Nguyên Đại, thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Mài pháp danh Nguyên Khiết. Thầy sinh ra trong một gia đình mộ đạo và là em út của 5 chị anh. Trong đó có vị vừa là bào huynh vừa là pháp huynh là Hòa thượng Thích Lưu Thanh.
Năm 19 tuổi (1965) thầy phát tâm xuất gia tu học với cố Hòa thượng Thích Mật Hiển, Tổ đình Trúc Lâm Huế.
Năm 1967 được Bổn sư cho thọ Sa di phương trượng tại Tổ đình, trong  năm này Hòa thượng đã trúng tuyển vào kháo Cao đẳng chuyên khoa Phật học Liễu Quán tại chùa Linh Quang-Huế
Sau biến cố Mậu Thân 1968, Hòa thượng chuyển vào Phật Học viện Hải Đức - Nha Trang và tiếp tục chuyên trình học tập tại trường Trung học Bồ Đề - Nha Trang. Cũng năm này thầy đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Giới đàn Phật Học viện Hải Đức.
Sau khi tốt nghiệp Tú tài I, II được Học viện chuyển vào Sài Gòn, ở tại Tu viện Quảng Hương Già Lam và tiếp tục chương trình Đại học.


ht luu thanh 3ht luu thanh 5

Đã theo học Cử nhân tại các trường Đại học Văn khoa Sài Gòn và Đại học Vạn Hạnh.
Sau năm 1975, Hòa thượng về ẩn tu và sinh hoạt theo tinh thần Thiền nông của Tổ Bách Trượng tại chùa Như Pháp, huyện Tiểu Cần , tỉnh Trà Vinh.
Năm 1979 trở về trú xứ Già Lam, tiếp tục học khóa chuyên khoa bồi dưỡng Phật học Cao cấp. Trong thời gian này Hòa thượng được mời dạy môn Duy Thức Học cho lớp Ni sinh tổ chức tại chùa Già Lam, Từ Thuyền.
Năm 1987 Ni sư Trí Hải mời dạy Tư Tưởng Kinh Điển Đại Thừa tại Ni viện Tuệ Uyển, thuộc Phật Học viện Vạn Hạnh.
Năm 1990 nhận lời mời đến dạy tại Trường Cơ bản Phật học tỉnh Hậu Giang về môn sử Phật giáo.
Năm 1991 được mời thỉnh giảng môn Lịch sử và Tư Tưởng Phật giáo thuộc khoa Sử Địa, Đại học Cần Thơ.
Năm 1994 thầy giảng dạy tại các Trường Phật học Cần Thơ và Sóc Trăng.
Năm 1996 giảng dạy môn Sử Phật giáo cho các trường: Phật học Thiên Khánh và Thiên Phước tại Long An; cũng thời gian này Hòa thượng đã được mời dạy các trường Hạ chùa Kim Cang (Thủ Thừa), chùa Hòa Bình, chùa Bồ Đề (Cần Giuộc), tịnh thất An Hòa (Thủ Đức), Tịnh xá Trung Tâm, Tịnh xá Ngọc Phương thuộc hệ phái Khất sĩ ở Tp.Hồ Chí Minh.
Năm 1997, trường Cao đẳng và Trung cấp Phật học mời dạy môn Duy Thức Học và Tư Tưởng Đại Thừa tại chùa Vĩnh Nghiêm (Tp.Hồ Chí Minh).
Năm 1998, Giáo thọ sư bộ môn Duy Thức học cho lớp Cao Đẳng chuyên khoa Phật học Cần Thơ.
Năm 2003, thể theo lời mời của Hòa thượng Viện chủ chùa Trang Nghiêm tại Pakse. Hòa thượng đã sang thăm nươc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, trong dịp này thầy đã đi tham quan các danh lam thắng cảnh tại Thủ đô Viêng Chăn (Lào) và một số thắng cảnh tại Thái Lan.
Hòa thượng đã trở về Tổ đình đảnh lễ bảo thápTổ và Bổn sư. Thăm hỏi nhị vị Hòa thượng Pháp huynh. Sau đó Hòa thượng cũng đã nhờ con cháu đưa đi thăm viếng mộ phần của song thân và Tổ tiên ông bà.
Sau đó Hòa thượng trở lại Quảng Hương Già Lam để đảnh lễ niệm ân chư Tôn đức tại trú xứ đã hoan hỷ  cùng Hòa thượng tu học trong hơn 40 năm hành đạo tại niềm Nam.
Hòa thượng đã an nhiên thị tịch lúc 4 giờ 10 phút ngày mùng 8 tháng 6 năm Giáp Ngọ (4/7/2014): thọ 69 tuổi đời và 46 hạ lạp.
Một số tác phẩm đã thực hiện:
Diệu Huệ Dòng Nữ Kinh (dịch giảng và chú thích, 1984).
Tuệ Trung Thượng Sĩ (Thiền Học, 1993).
Để lại cho ai (Thi tập, 1968).
Nguồn suối êm đềm (Tập truyện ngắn, 1970).
Mây ngàn (Thi tập, 1988).
Màu hoa tưởng niệm (Nhạc).*
Và Một số dịch phẩm khác...."

       Cuộc đời của Ôn và Người Bào đệ của Ôn là tấm giương soi chiếu cho chúng con.
Ngoài ra Ôn cũng là vị giáo thọ sư cho các đại giới đàn. Hình ảnh dung dị, giọng ôn hơi lấp nhưng ai cũng cung kính tôn ngưỡng, vì hạnh tu Ba la mật.
Chúng con cung kính Bái biệt Ôn về cảnh Phật.
Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tứ Thế, Liễu Quán Pháp Phái, Xuân Kinh Trúc Lâm Đại Thánh Tự Đường Thượng, Huý thượng NGUYÊN hạ TỊNH, Tự LƯU THANH, Hiệu NGÂN BÌNH, Trưởng Lão Hoà Thượng Giác Linh.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 20-06-2020.
                 Ngày Âm Lịch: 29-04- Nhuận- Canh Tý.
.......
Ghi chú:
*: Trích Nguồn tiểu Sử Của Hoà thượng Tín Đạo- trang nhà Phật giáo Huế.vn.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9086)
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.
09/04/2013(Xem: 10811)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14269)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 25990)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15594)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9948)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 18025)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15856)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13434)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8859)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.