Pháp Lữ Tình Huynh Đệ

30/04/202016:38(Xem: 7336)
Pháp Lữ Tình Huynh Đệ

ht dong chon 2

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT TÁT ĐẠI CHỨNG MINH.
NAM MÔ TÂY THIÊN ĐÔNG ĐỘ VIỆT NAM TRUYỀN GIÁO TRUYỀN LUẬT LỊCH ĐẠI TỔ SƯ THUỲ TỪ CHỨNG GIÁM.

Bái vọng Hòa thượng Thích Đồng Chơn pháp huynh, tôi ghi vào đây vài dòng tiểu sử nhắc lại cuộc đời hành đạo của Hòa thượng cho đến ngày xả báo thân trở về cõi niết bàn an lạc.

Tôi Thích Quảng Xả được gọi Hoà Thượng bằng “thầy Đồng Chơn” để thể hiện tình linh sơn cốt nhục, nghĩa thích tử côn bằng trong tình đạo bạn với nhau.

Sau ngày đấu tranh của chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo năm 1968. Năm 1969 tu viện Nguyên Thiều mở khóa chiêu sinh nội điển, để các chùa trong tỉnh Bình Định cho đệ tử tập trung về học viện Nguyên Thiều để tu học, tôi Thích Quảng Xả lạy Hòa thượng ở tổ đình Hưng Long xin được về Nguyên Thiều để được nội trú tu học, còn thầy Đồng Chơn thì ở chùa Bình An – thôn Trung Tín, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Vì chùa quá ít chúng điệu nên Hòa thượng bổn sư của thầy không cho nội trú tại Phật Học Viện Nguyên Thiều mà chỉ cho ở chùa đạp xe đạp đi học, việc đi học trở nên vất vả hơn, nhất là vào mùa Đông, mưa gió bão lụt nhưng với sự kiên trì bền chí thầy vẫn cố gắng để đến lớp học cùng chư huynh đệ. Tôi Thích Quảng Xả nhìn thấy chứng kiến những việc khó khăn gian khổ của thầy Đồng Chơn, nên thường trò chuyện với nhau trong giờ giải lao của mỗi buổi học, hơn nữa thầy Đồng Chơn tánh tình thật thà chất phát, về việc tu học rất là tinh tấn miệt mài, luôn được dẫn đầu trong chúng cùng nhau tu học tại Phật Học Viện Nguyên Thiều.

Có những ngày thứ Bảy, Chủ nhật được nghỉ học tôi cùng đi với thầy về chùa Bình An thăm chơi trong tình đạo bạn, cùng nhau được: “Đồng thinh tương ứng, Đồng khí tương cầu.” Chùa Bình An lúc bấy giờ còn khiêm tốn, chính giữa là chánh điện, thầy Đồng Chơn thường ở phía bên Nam, lúc nào tôi xuống ở lại thăm chơi ở lại qua đêm thì thầy để cho tôi nằm trên võng còn thầy trải chiếc chiếu lát nằm dưới sàn nhà, cùng nhau trò chuyện rất là vui vẻ trong cuộc sống đạm bạc của người xuất gia học Tăng tại Phật Học Viện Nguyên Thiều…

Giáo thọ sư trong lớp học nội điển bây giờ có Hòa thượng Thích Giác Tánh; Hòa thượng Thích Giác Ngộ; Hòa thượng Thích Giác Lâm; Hòa thượng Thích Đỗng Quán; Hòa thượng Thích Đồng Thiện – làm vị trụ trì tại Phật Học Viện lo về đời sống Tăng chúng đang tu học rất là vất vả, cuốc đất trồng rau tưới nước hằng ngày để có rau quả cung cấp cho Tăng chúng thọ dụng. Thỉnh thoảng thì Hòa thượng giám viện của Phật Học Viện là ngài Thích Huyền Quang mới về thăm học viện và Tăng chúng một bữa. Lúc bấy giờ Phật Học Viện mở lớp học chiêu sinh về Nguyên Thiều từ lớp 6 trở lên để tu học theo hai chương trình nội điển và ngoại điển, thời gian thấm thoát thoi đưa đến gần cuối năm 1970 và đầu năm 1971 thì việc tu học ở Phật Học Viện bị thay đổi. Chư tôn Hòa Thượng trong Ban Giám Hiệu của trường, kết hợp với Giáo hội do Hòa Thượng Thích Kế Châu trụ trì tổ đình Thập Tháp làm Chánh đại diện Phật giáo tỉnh Bình Định, chuyển trường Phật Học Viện Nguyên Thiều về Tổ đình Thập Tháp lấy tên là Phật Học Viện Phước Huệ. Lúc bấy giờ đường càng xa giao thông càng cách trở, nên thầy Đồng Chơn xin sư tổ Từ Hàng trụ trì chùa Bình An cùng về ở nội trú tại Phật Học Viện Phước Huệ tổ đình Thập Tháp Di Đà Tự, những ngày nghỉ học thầy xin Ban Giám Hiệu cho về chùa Bình An lo việc chùa, đường xá xa xôi giao thông bất tiện nhưng thầy vẫn đi chiếc xe đạp trành, tôi nhìn thầy rất là thương xót, nhưng tình anh em đạo bạn chỉ biết chia sẻ chứ biết làm sao bây giờ!

Thời gian trôi qua, năm 1972 – 1973 chiến tranh bắt đầu bùng nổ mạnh, nhưng cuộc sống người tu sĩ theo lời Phật dạy vẫn cùng nhau hài hòa an nhiên tu học. Cuối năm 1974 sang đầu năm 1975 chiến tranh lại càng ác liệt hơn, trường Phật Học Viện Phước Huệ chư Tôn giáo phẩm Ban Giám Hiệu cho Tăng sinh nghỉ học để lánh nạn, chư huynh đệ học Tăng chia tay nhau mỗi người mỗi nơi ai về chùa nấy, như chim lìa đàn, cuộc sống không còn như những ngày cùng nhau tu học ở Phật Học Viện Phước Huệ nữa.

Sau khi cách mạng hoàn toàn giải phóng đất nước. Học Tăng trở về lại tu viện Nguyên Thiều chỉ còn 5 đến 7 vị, lúc bây giờ về việc an ninh rất là khó khăn gian khổ. Thầy Đồng Chơn trụ tại chùa Bình An rất là chật vật trong sinh hoạt hằng ngày cho việc tiếp Tăng độ chúng, nhưng thầy vẫn không quên mình vì đạo pháp dân tộc trong đó có tín đồ Phật Giáo, tinh thần nhiệt huyết và lòng quyết tâm làm cho thầy càng thêm bền chí trong việc tu tập và hành đạo ở nơi đó trở nên vững mạnh hơn.

Từ đó đến nay lâu lâu anh em mới gặp nhau lại một lần, cùng bàn bạc về việc tồn vong của đạo Phật trong hiện tại cũng như tương lai, thầy ấy có biệt hiệu là: “Anh Bảy Bình An thường hay than khổ.” Năm tháng trôi qua tuổi càng ngày càng lớn bệnh tật phát sinh, thân tứ đại mấy ai được bền chắc, đến ngày 22 tháng 3 năm 2020( 29/2/ Canh Tý) thầy đã xả báo thân trở về cõi niết bàn vô tung bất diệt. Trụ thế 74 năm. Hạ lạp 54 năm.


Tôi Thích Quảng Xả ghi lại vài dòng cuộc đời hành đạo của chúng ta, giờ đây thầy trở về cõi niết bàn an lạc.

Xin cầu nguyện Hoà Thượng đi ở phân minh nơi nào cũng là chốn tịnh độ đạo tràng an vui trong tinh thần bất diệt.


Canh khuya gà gáy ngày mồng 1 tháng 4 năm Canh Tý (2020) Phật Lịch 2564
                   tại chùa Huệ Chiếu thành phố Kon Tum tôi xin dừng bút tại đây.

 

Pháp đệ Thích Quảng Xả

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/01/2011(Xem: 9146)
Về việc Hòa Thượng Đôn Hậu lên núi, ra Bắc trong vụ Tết Mậu Thân được thầy Trí Tựu, Trú Trì chùa Linh Mụ thuật lại như sau: (lúc 12:00 giờ trưa, ngày 12-3-2009 tại chùa Linh Mụ) Vào khoảng quá nửa đêm tối Mồng một Tết Mậu Thân, có một phái đoàn gồm quân nhân và người mặc thường phục đến thăm Ôn. Ôn đang bị bệnh, bệnh suyễn và xuất huyết dạ dày. Thầy ngồi đàng xa. Thầy Trí Lưu, thân phụ của thầy Trí Siêu Lê Mạnh Thát, lúc đó là Tri Sự chùa Linh Mụ, ngồi gần Ôn. Họ mời Ôn về Huế họp. Ôn từ chối nói đau không đi được. Họ nói có người đưa Ôn đi. Sau đó người ta gánh Ôn đi trên một chiếc võng, từ chùa Linh Mụ, không về Huế mà rẽ về Chợ Thông thuộc làng An Ninh Hạ, đến La Chữ. Ban ngày núp, nghỉ, ban đêm đi. Sau một tháng đến Seopon giáp giới Lào. Máy bay trực thăng bay trên đầu mà không bắn. Trên đường đi, thiếu lương thực, bị hạm đội Mỹ pháo kích. Nhiều người bị chết vì đói và sốt rét. (Được kể lại sau 1975). Rồi sau đó từ Huế ra Hà Nội mất hết 4 tháng, đi theo đường Mòn Hồ Chí Minh đến
30/12/2010(Xem: 9583)
Nguyễn Du (1765-1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ, Nam Hải Điếu Đồ, sinh trưởng trong gia đình phong kiến quý tộc có nhiều danh vọng, quê gốc ở làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Cha và anh của ông giữ những chức vụ quan trọng trong phủ chúa Trịnh. Thời trẻ ông tập ấm một chức quan võ nhỏ của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Năm 1787, Tây Sơn ra Bắc diệt Trịnh, ông bắt đầu thời kỳ “Thập tải phong trần” (Mười năm gió bụi). Sau ông phục vụ nhà Nguyễn, làm đến Hữu Tham tri Bộ Lễ, từng được cử làm chánh sứ đi sứ Trung Quốc.
30/12/2010(Xem: 8149)
Viết về cụ Nguyễn Du mà chúng ta không nói đến lòng thương vô hạn của cụ đối với chính mình đối với tha nhân, đối với xã hội thì đó là một vấn đề thiếu sót; viết về Nguyễn Du mà không nói đến Phật giáo thì đó cũng là một thiếu sót quang trọng, vì toàn bộ sự nghiệp văn thơ của cụ đều phát xuất từ hai quan điểm này để từ đó cụ gởi gắm tâm sự của cụ lại cho người hậu thế.
27/12/2010(Xem: 8251)
Vị thầy người Nhật của tôi đã ra đi năm ngoái, quá trẻ, quá sớm. Bà chỉ mới năm mươi bốn tuổi, và không có ai để truyền thừa Pháp. Bà chỉ có năm người đệ tử sống cùng bà trong những năm gần đây. Tôi, năm mươi sáu tuổi, nhưng lại là đệ tử mới nhất của bà, mà lại là nam đệ tử. Tôi ở với một nhóm nhỏ đệ tử người Tây phương chỉ mới được mười năm nay, trong khi người nữ đệ tử trẻ tuổi nhất cũng đã có mười lăm năm theo học với bà. Do vị thế ưu tiên của việc “sống lâu lên lão làng” trong tăng đoàn nhỏ bé của chúng tôi, mà các vị nữ đệ tử trẻ này tha hồ chế ngạo cái đầu không tóc, và việc gia nhập tăng chúng muộn màng của tôi. Tôi không màng điều đó chút nào, vì từ những ngày đầu, tôi đã rất hạnh phúc được thân cận “roshi” của tôi, với lòng tin tưởng rằng sự gần gủi, tiếp xúc hằng ngày với bà có thể giúp tôi đi đến ngưỡng cửa tiếp cận tâm linh, nơi ma
24/12/2010(Xem: 9633)
Đại lễ đặt dưới sự chứng minh tối cao của: Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu, Phó Pháp chủ Hội đồng chứng minh GHPG Việt Nam, trú trì Tổ đình Tường Vân – Huế, Trưởng lão Hòa thượng Thích khả Tấn, Thành viên Hội đồng chứng minh GHPG Việt Nam, Giáo phẩm chứng minh BTS GHPG tỉnh Thừa Thiên – Huế, Giáo phẩm chứng minh Môn phái tổ đình Tây Thiên – Huế, trú trì chùa Giác Lâm – Huế. Trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Phương, Phó chủ tịch HĐTS Trung ương GHPG Việt Nam, Trưởng ban Trị sự GHPG tỉnh Thừa Thiên – Huế, trú trì Diệu Đế quốc tự, Lam Sơn và Tra Am – Huế. Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Duyên, Thành viên Hội đồng chứng minh GHPG Việt Nam, Ủy viên thường Trực HĐTS Trung ương GHPG Việt Nam, Trưởng ban Hướng dẫn nam nữ cư sĩ Phật tử trung ương, Trưởng ban Trị sự GHPG tỉnh Quảng Nam, trú trì chùa Đạo Nguyên Tam Kỳ - Quảng Nam. Chư tôn đức trong thường trực BTS GHPG tỉnh Thừa Thiên – Huế, chư tôn đức đại diện các môn phái Tổ đình trong tỉnh Thừa Thiên – Huế, chư tôn đức trú trì các
24/12/2010(Xem: 6687)
Niên Biểu Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, Chánh Thư ký, Xử lý Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đệ Tam Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
24/12/2010(Xem: 9276)
Được sự hoan hỷ chấp thuận của Ban Trị Sự Phật Giáo Tỉnh, sự quan tâm giúp đỡ mọi mặt của quý cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền và mặt trận, Ban Hướng Dẫn Phật Tử Tỉnh Thừa Thiên Huế long trọng tổ chức Hội Thảo Hướng Dẫn Phật Tử và Đại Lễ Trai Đàn Truy Niệm Tiền Hậu Công Đức, Sáng Lập Hội Viên, Khuôn Trưởng, Trưởng Ban Hộ Tự, Hội Viên Thiện Nam Tín Nữ, Cư Sĩ Phật Tử, Gia Trưởng, Huynh Trưởng, Đoàn Sinh Gia Đình Phật tử trong tỉnh Thừa Thiên Huế và tưởng niệm Cầu Siêu quá cố Chư vị huynh trưởng nhân dịp kỉ niệm 60 năm ngày thành lập Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Trước hết, thay mặt Ban Hướng Dẫn Phật Tử tỉnh và Ban Tổ Chức Đại lễ chúng con thành kính đảnh lễ niệm ân Chư Tôn Giáo Phẩm Hội Đồng Chứng Minh, Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Chư Tôn Giáo Phẩm, Chư Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni. Kính lời chào mừng nồng nhiệt đến chư vị quý khách lãnh đạo các cấp, quý vị nhân sĩ trí thức và toàn thể đồng bào Phật tử các giới. Cung chúc Chư Tôn Giáo Phẩm, Chư Tôn Đức Tăng Ni thế tuế thọ t
19/12/2010(Xem: 14997)
Phật Giáo và A-dục Vương. K. R. Norman (Nguyên Tâm dịch) Hoàng đế Asoka, Con người của hòa bình và tình nhân bản. Minh Chi Đại đế Asoka và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp. Thích Quảng Đại Đại đế Asoka Maurya và những pháp dụ khắc trên đá Trần Trúc-Lâm Hoàng đế Asoka giã từ chinh chiến với nỗi thống khổ của người thắng trận. Trần Hương Lan Trường ca Kalinga. Trúc Thiê
19/12/2010(Xem: 29457)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua...
18/12/2010(Xem: 23927)
Từ thơ ấu, Tuệ Trung đã được khen là thông minh và dịu dàng. Giữ chức Thống Đốc Hồng Lô (bây giờ là tỉnh Hải Dương), ngài đã hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lược, và được thăng chức Tiết Độ Sứ trấn cửa biển Thái Bình.