Thân Phận Con Người

28/04/202019:17(Xem: 4555)
Thân Phận Con Người

Phat thuyet phap 7

 

THÂN PHẬN CON NGƯỜI
Thích Giác Huệ



Vũ trụ không gian, thời gian đối với con người và vạn vật là một sự thể sinh động, chuyển hóa không ngừng theo một chu kỳ nhất định: "Thành, Trụ, Hoại, Không". Tuy nhiên sự tiến hóa về tâm linh, con người cũng như vạn vật, đều phát triển đồng bộ, nhịp nhàng và phù hợp theo định luật.

     

Những hạnh phúc hoặc đau khổ của chúng sanh nói chung, con người nói riêng, tất cả đều do chính mình gây tạo, vì thế nên phải nhận chịu những hậu quả tốt, xấu về sau của cuộc đời !

     

Bởi những nghiệp quả thiện, ác mê chấp nặng nề, mà chúng sanh cũng không thoát khỏi sự tuần hoàn của vũ trụ thời gian, "sanh, già, bệnh, chết" theo luật định, cho nên cứ trôi lăn mãi trong vòng sanh tử luân hồi không bao giờ ra khỏi được!

     

Vì không nhận rõ nguyên nhân (NHÂN) và hậu quả (QUẢ) của thiện ác, trong vòng sanh tử tương đối, con người mặc nhiên chấp nhận theo luật định, đồng thời xã hội loài người còn chia ra nhiều giai cấp khác nhau, nâng sự đau khổ càng lúc thêm gia tăng! Các giai cấp dưới, họ tự coi số phận mình như đã an bài, đành cam chịu không còn oán than! Các giai cấp thống trị càng ra sức bóc lột một cách tự nhiên, thậm tệ và coi như một đặc quyền tuyệt đối, bất khả xâm phạm của họ, vì vậy mà bất cứ  một xã hội nào, cũng có những cảnh bất công áp bức "mạnh hiếp yếu, khôn lấn dại, giầu khinh nghèo...", tạo thành những bối cảnh lịch sử của loài người hết sức phức tạp, hổn độn, đôi khi đưa đến những hành động dã man! Họ tự mâu thuẩn, hiềm khích lẫn nhau, rồi xâu xé trong nội bộ, gây chiến tranh vì màu da sắc tóc, vì "chấp ngã tham lam và ich kỷ..." nên những cảnh đau thương, tang tóc, chết chóc lúc nào cũng diễn ra khắp nơi trên thế giới!

     

Ngày xưa, nước Ấn Độ thời Phong kiến Quân quyền, khi Thái Tử Sĩ Đạt Ta ra đời, Ngài có những nghi vấn lớn. Ngoài những bất công xã hội đó, Thái Tử còn có những nổi lo âu thắc mắc rất trọng đại hơn ! "Taị sao chúng sanh phải chịu những cảnh sanh, già, bệnh chết" không tránh khỏi?

     

Những suy tư của Thái Tử càng thêm gia tăng, dồn dập và thúc đẩy, nên Ngài quyết định rời bỏ hoàng thành xuất gia "Tầm Đạo", với một ý chí siêu việt xuất trần, Thái Tử gạt bỏ tất cả những hạnh phúc riêng tư: nào vợ đẹp con xinh, cung phi mỹ nữ nơi cung son điện ngọc, ngày đêm túc trực đàn ca xướng hát để làm vui lòng Ngài. Đồng thời chiếc ngai vàng cũng đang chờ đón Thái Tử bước lên! Nhưng Ngài vẫn mạnh dạn ra đi tìm Chơn Lý, không một chút quyến luyến, với tâm Đại Hùng, Đại Lực và Đại Từ Đại Bi thương xót chúng sanh!

     

Năm năm tìm đạo, sáu năm tu hành khổ hạnh trong rừng sâu núi thẳm, Ngài đã trải qua không biết bao nhiêu gian nan khổ ải, những cực hình để thực hành các pháp, sự đói khát có thể làm mất thân mạng nhưng Ngài vẫn không sờn lòng nản chí!

     

Cuối cùng dưới cây bên cội cây Bồ Đề, Ngài tọa thiền và thệ nguyện: "Dù thịt có khô, máu có cạn, thân tan thịt nát, quyết không bao giờ đứng dậy và rời khỏi nơi này nếu không tìm ra Chân Lý!" Và rồi sau bốn mươi chín ngày đêm Thiền định, Ngài đã chứng quả Vô Thượng Bồ Đề, Chánh Đẳng, Chánh Giác và thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai.

     

Đầu tiên nơi vườn Lộc Uyển, năm anh em ông Kiều Trần Như, những người bạn trước kia đồng tu với Ngài, sau khi nghe Ngài thuyết về "Tứ Diệu Đế", họ liền tỏ ngộ và đảnh lễ Ngài, xin làm đệ tử... Tiếp sau đó Ngài đi giáo hoá chúng sanh khắp nơi...

     

Tại Ấn Độ, Ngài đem giáo lý "Bình Đẳng" thâu các đồ chúng đủ các thành phần: từ các vị Quốc vương, Thái tử, Đại thần cho đến các hàng thứ dân v.v..., cứ theo thứ lớp thọ giới trước, sau mà nghiêm trì giới luật, y giáo phụng hành, không phân biệt vua, tôi, giầu nghèo, để đồng chúng tu học. Ngài đã xóa bỏ được các giai cấp bất công xã  hội của Ấn Độ. Đồng thời những định kiến sai lầm đã có từ lâu đời cũng lần lượt bị phá vỡ và sụp đổ!

     


ht thich giac hue
Chân dung tác giả, HT Thích Giác Huệ

Trong suốt 49 năm, Ngài đã mở trên 300 pháp hội để giáo hóa, tùy theo căn cơ trình độ của chúng sanh, Ngài dùng các phương tiện thiện xảo, để thuyết giảng các pháp rất khế hợp thế gian và xuất thế gian. Từ hơn hai mươi lăm thế kỷ nay, số đệ tử của Ngài từ các hàng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát... , hằng hà sa số người quy y theo Phật tu hành đã chứng thành đạo quả và giải thoát.

     

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Như Lai hay các đức Phật thời quá khứ, các Ngài giáng sanh ra đời, cũng đều làm lợi lạc Nhơn, Thiên, với mục đich "Khai, Thị, Ngộ, Nhập » Phật tri kiến, Chuyển mê thành ngộ, Tức vọng quy chơn" phá tan màn vô minh đen tối của chúng sanh từ vô lượng kiếp, vì sự mê chấp mà phải chịu sự đọa lạc trong vòng sanh tử luân hồi theo luật định, không giải thoát được.

     

Nay ngày Phật Đản, chúng con thành kính đốt nén tâm hương, với cõi lòng thanh tịnh, dâng cúng Đức Thế Tôn và ngôi Tam Bảo: "Nguyện học và hành theo Hạnh Từ Bi của Ngài" để ghi nhớ công đức vô lượng vô biên của đấng Cha lành Thích Ca Mâu Ni Như Lai, cùng các đức Phật mười phương ba đời, các Ngài vì lòng thương xót chúng sanh, đem đạo Giải Thoát mà cứu độ, nguyện ơn trên chư Phật, Bồ Tát thường tùy lân mẫn gia hộ chứng minh cho chúng con có đủ hùng lực, tinh tấn tiến tu đạo nghiệp "Tự Giác, Giác Tha, Giác Hạnh Viên Mãn và Hoằng Pháp Lợi Sanh Báo Phật Ân Đức!" trong thời hạ nguyên mạt pháp này!

 

Kính dâng một nén tâm hương,

Ba đời chư Phật mười phương cúng dường,

Thích Ca từ phụ chỉ đường

Đệ tử chúng đẳng tỏ tường lối đi,

Công ơn nghĩa nặng Từ Bi,

Dắt dìu sanh chúng kịp thì Long Hoa,

Mạt pháp nghiệp dữ Ta Bà,

Hoằng dương chánh pháp độ tha phen này,

Chúng sanh, chư Phật sum vầy,

Đời đời kiếp kiếp Tâm này Pháp vương.

 

Thích Giác Huệ

Pháp Quốc mùa Phật Đản 2006

 

(nguồn : http://txngocdiemfrance.free.fr/ )




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/04/2013(Xem: 9218)
Kể từ khi loài người biết phát huy trí tuệ, chúng ta thấy rõ có hai khuynh hướng phát triển, khuynh hướng hướng nội và khuynh hướng hướng ngoại. Khuynh hướng hướng ngoại, gọi là ngoại quan, tức quan sát sự hiện hữu và diễn tiến của sự vật bên ngoài giúp cho con người có được nhận thức đúng đắn về sự sống của hiện tượng giới.
22/04/2013(Xem: 23761)
Ba năm về trước, khi bổn-sư (và cũng là chú ruột) của tôi là cố Hòa-Thượng Ðại-Ninh THÍCH THIỀN-TÂM viên-tịch, trong buổi lễ thọ tang ngài tôi có dâng lời nguyện trước giác-linh Hòa-Thượng cầu xin ngài chứng-minh và gia-hộ cho tôi - vừa là đệ-tử và cũng là cháu ruột của ngài - được đầy đủ đạo-lực cùng minh-tâm, kiến-tánh thêm hơn để nối-tiếp theo gót chân ngài, hoằng-dương pháp môn Tịnh-độ nơi hải-ngoại ....
17/04/2013(Xem: 7574)
Con, Tỳ kheo ni Hạnh Thanh, vừa là môn phái Linh Mụ ; nhưng thật ra, Ôn, cũng như con và cả Đại chúng Linh Mụ đều là tông môn Tây Thiên pháp phái. Vì Ôn Đệ tam Tăng thống tuy Trú trì Linh Mụ quốc tự, nhưng lại là đệ tử út của Tổ Tâm Tịnh, Khai sơn Tổ Đình Tây Thiên, được triều Nguyễn dưới thời vua Khải Định sắc phong là Tây Thiên Di Đà tự. Ôn Cố Đại lão Hòa thượng Đôn Hậu có cùng Pháp tự chữ Giác với quý Ôn là Giác Thanh, trong Sơn môn Huế thường gọi là hàng thạch trụ Cửu Giác và có thêm một hàng gọi là bậc danh tăng thạc học Cửu Trí (Chỉ cho các ngài Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siệu v..v...) Cố đô Huế là vậy ; đó là chưa kể nơi phát sinh ra danh Tăng ưu tú ngũ Mật nhị Diệu (Mật Tín, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không) và cũng là nơi đào tạo tăng tài, xây dựng trường Đại học Phật giáo đầu tiên không những chỉ cho Huế mà cả miền Trung việt Nam nữa. Ở Huế thường kính trọng các bậc chơn tu thực học, đạo cao đức trọng nên thường lấy tên chùa để gọi pháp
11/04/2013(Xem: 17510)
Một con người với nhiều huyền thoại bao phủ theo từng bước đi, dù ngàn năm trôi qua nhưng dấu ấn vẫn còn đong đầy trong tận cùng tâm thức, hạnh nguyện độ sanh vẫn lớn dần theo nhịp tử sinh, in dấu trên từng hoá độ, kỳ bí trong vô cùng không tận, không ngôn ngữ nào có thể diễn tả trọn vẹn. Một sự lặng thinh phổ cập trên từng đường nét, chỉ có cõi lòng thành kính tri ơn, nhớ ơn, biết ơn, được nhân dân tôn thờ lễ bái
10/04/2013(Xem: 11197)
Ngày 15-2-1965, tôi và thầy Chơn Thanh cũng như các học Tăng khác từ các nơi tập trung về Phật học viện Huệ Nghiêm dự thi tuyển vào khóa II của Phật học viện. Thầy thì từ Phật học đường Phổ Quang Gia Định đến, tôi thì từ Phật học đường Lưỡng Xuyên- Trà Vinh lên, tất cả cùng một chí hướng, một mục đích và một ước nguyện là thi đậu vào Phật học viện. Kết quả, thầy thi đậu lớp Sơ trung 2, tôi thi đậu vào lớp Sơ trung 1
10/04/2013(Xem: 13879)
Kính dâng Hoà Thượng Thích Tịch Tràng, để nhớ công ơn giáo dưỡng - Tôi ra thắp nhang nơi tháp mộ của Người, ngồi bên tháp rêu phong, vôi vữa đã lở ra từng mảng, đường nét đơn sơ giản dị như cuộc đời giản dị của Thầy, lòng chợt bâng khuâng nhớ thương thầy vô hạn. Tôi tự hỏi: “Động cơ nào đã thôi thúc Thầy nguyên là một vị giáo sư Pháp văn ưu tú con nhà quý tộc ở xứ Quảng, lại cắt ngang con đường công danh sự nghiệp, để vào đây nối bước theo chân Tổ mà nối đuốc đưa mọi người qua khỏi bóng đêm vô minh dày đặc và biến nơi đây thành một quê hương tâm linh cho tất cả ngưỡng vọng hướng về”.
10/04/2013(Xem: 11570)
Một sinh thể đã xuất hiện trong cuộc đời như chưa từng có, đến lúc từ giã ra đi cũng thật nhẹ nhàng như cánh nhạn lưng trời. Vốn xuất thân từ dòng dõi trâm anh thế phiệt, được bẩm thụ cái gen của tổ phụ từng nổi tiếng văn chương, lại hấp thụ tinh hoa của địa linh sông Hương, núi Ngự - một vùng đất được xem là cái nôi của văn hóa Phật giáo miền Trung. Khi trưởng thành, thể hiện phong thái của một bậc nữ lưu tài sắc vẹn toàn, nhưng túc duyên thôi thúc, sớm rõ lẽ vô thường, dễ dàng từ bỏ cảnh phú quí vinh hoa, hâm mộ nếp sống Thiền môn thanh đạm.
10/04/2013(Xem: 8658)
Cư sĩ Tâm Minh- Lê Đình Thám sanh năm Đinh Dậu (1897) tại làng Đồng Mỹ (Phú mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam-nay là tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng. Ông xuất thân trong một gia đình quyền quí nhiều đời làm quan.Thân sinh là Binh Bộ Thượng Thư Lê Đỉnh ở triều Tự đức.
10/04/2013(Xem: 9151)
Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, thế danh là Nguyễn Văn Kỉnh, sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (1890), tại làng Dưỡng Mông Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân sinh là cụ ông Nguyễn Văn Toán và cụ bà Tôn Nữ Thị Lý. Ngài là con trai thứ ba trong gia đình, bẩm tính thông minh, năm 15 tuổi Ngài đã tinh thông Nho học rõ lẽ xuất xứ ở đời, nhưng với chí khí xuất trần, muốn vươn tới một phương trời cao rộng Ngài đã xin phép song thân được xuất gia tầm sư học đạo.
10/04/2013(Xem: 14063)
Đại Lão Hoà Thượng Pháp danh Thượng Quảng Hạ Liên, Tự Bi Hoa, Hiệu Trí Hải thế danh Nguyễn Văn Chính, sinh năm 1926 – Bính Dần tại Sông Cầu – Tỉnh Phú Yên, trong một gia đình túc nho, tiểu thương, giàu lòng kính tin tam bảo, Hoà thượng là con thứ 8 trong gia đình với 09 Anh Chị Em được thân phụ là Cụ Ông Nguyễn Văn Phân – PD. Nhựt Minh và thân mẫu là cụ bà Võ Thị Dưỡng – PD.