Năm Tháng Có Đợi Chờ ?

18/04/202018:25(Xem: 6384)
Năm Tháng Có Đợi Chờ ?


ht dong chon 1ht dong chon 2





Năm Tháng Có Đợi Chờ ?

 Thấm thoát đã hai mươi mấy năm, kể từ ngày con rời xa thầy vào trong miền Nam học Đạo. Đường đời vạn nẻo, đường chơn tu vạn thử thách cho kẻ sơ cơ. Cuộc sống có những thăng trầm và muôn vàn thử thách mà người xuất gia học đạo cần phải “kiên tâm, bền chí, và giữ vững đạo tâm thì mới đạt được chí nguyện của mình”. Lời thầy dạy vẫn còn vang lên trong con như mới hôm nào, từng cái gõ đầu nhắc nhở, bao lần thầy la con để trang nghiêm giới pháp cho con…. ..Vẫn còn đâu đó ký ức hẳn như mới mẽ. Ấy vậy mà, thoảng chốc như cung tên bắn mạnh vào trời không, con chợt ngỡ ngàng chựng lại khi chiều nay nghe tin “Thầy đã thâu thần thị tịch”.

Thầy ơi, con thật muốn hét lên trong muôn vàng nỗi nhớ. Cảm xúc bao năm tháng xưa cứ mồn một ùa về khiến lòng con đau nhói, cả bầu trời Phan Rang – Ninh Thuận nơi con ở, cũng như chợt xầm lại, buồn tiếc thương trong nổi nhớ thầy.

Nhớ ngày ấy, con còn dại lắm, bước đầu xuất gia học Đạo con còn nhiều vụng về thiếu biết. Lúc được Bổn Sư dẫn con đến chùa Bình An thọ giáo và học Giới luật nơi thầy, cùng Tăng- Ni thời bấy giờ, lòng con vô cùng háo hức, nhưng cũng pha chút sợ sệt trước uy nghiêm của thầy. Từ 4 giờ sáng, con đạp xe từ chùa Nhạn Sơn xuống chùa Bình An, cùng các điệu chúng nấu bữa cháo sáng cho thầy. Rồi ngay ngắn ngồi vào chiếc bàn gỗ cũ kỹ, đợi thầy lên dạy. Đều đặn như vậy mỗi sáng, dù là lúc thầy bệnh, thầy cũng thường nhật lên lớp dạy Luật cho chúng con. Cứ một muỗng cháo một hồi giảng, cho đến khi hết thời giờ sáng mà thầy vẫn còn chưa húp xong bát cháo. Vì thương chúng con thầy thật chẳng chút nề hà mà truyền trao từng lời dạy.

Con hẳn còn nhớ, các huynh đệ theo học có cả các Tăng- Ni sinh trong lớp Trung cấp Nguyên Thiều tới học Luật, riêng con lúc nào cũng bị thầy rầy nhiều nhất. Thầy bảo “sao con ngu thế, học thế bao giờ mới biết”, còn lúc thầy còn cốc đầu con rồi vừa nghiêm khắc vừa cười thương. Có lúc con cũng thật ngơ ngáo không hiểu sao thầy cứ rầy hoài. Đến nỗi về sau cả lớp lần lượt nghỉ học vì có duyên sự, chỉ còn mình con theo thầy học, thầy cũng còn rầy con là “ngu quá”. Ngu vậy, nhưng thầy cũng không bỏ con mà một thầy một trò, vẫn dạy và học cho đến câu “Nhất tâm bất sanh, Vạn pháp câu tức” câu cuối cùng “Quy Sơn Cảnh Sách”, rồi thầy mới nghỉ. Con vẫn còn nhớ cái buổi học cuối cùng đó. Lần đầu tiên trong đời thầy không gõ đầu và cười với con. Thầy bảo “con ngu lắm. Đời dạy học của thầy, con là đứa học trò theo học thầy bốn cuốn Luật mà không bỏ xót một chữ nào. Sau này hãy nương vào đó mà thực hành cho tinh tấn chớ để xao lãng. Sau này nếu còn duyên, con về đây thầy sẽ dạy kinh Di Đà cho mà hiểu, thầy cũng mong trước lúc ra đi dạy nốt cho con cuốn kinh này”.

Ấy vậy mà thời gian nào có đợi, con còn bận bịu Phật sự chưa kịp về thăm thì thầy đã ra đi thật rồi. Trong con hãy còn nhiều điều chưa kịp nói, chưa kịp một lần về tạ ơn thầy thì thầy đã khuất bóng. Nếu ngày ấy thầy chẳng nghiêm khắc dạy cho con nên người, nếu bao lần thầy chẳng gõ đầu cho con tỉnh ngộ, dạy cho con biết cái ngu “trong vô minh vô thỉ” thì có lẽ con đã không thể nào lãnh ngộ được “giới luật- mạng mạch Phật Pháp” vậy.

Vâng lời thầy, con vẫn ngày đêm nghiêm tầm và dịch sách, từng lời thầy dạy xưa nay con hằng khắc ghi trong lòng và dịch chú giải lại bộ “ LUẬT TRƯỜNG HÀNG” , như một lời cảm ơn và kế thừa tâm nguyện của thầy.

Hôm nay thầy đã xa rồi

Bóng hình dầu khuất sau đồi cỏ xanh

Lời thầy “giới đức tu hành”

Con nguyện xin giữ đặng thành Đạo Tâm.

Đệ tử Đồng Niệm xin được lần nữa hướng về Thầy với lòng biết ơn vô hạn. Nguyện một đời nối gót hiền nhân, tiếp nối lời Thầy trên mỗi bước đi. Thành kính đảnh lễ và nguyện cầu Thầy, Hòa thượng Thích Đồng Chơn, người thầy khả kính, bậc cao giới luật hạnh nghiêm, cao đăng Phật Quốc!

 



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/11/2010(Xem: 10584)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11299)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10668)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 16099)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 47819)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10021)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8547)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8687)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8490)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8327)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự