Cảm niệm Ân sư

29/03/202012:54(Xem: 6384)
Cảm niệm Ân sư

Cảm niệm Ân sư



Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch  chư Tôn đức

Chỉ còn vài phút nữa thôi, môn đồ pháp quyến chúng con thành tâm cung thỉnh Kim quan của Hòa thượng Bổn sư nhập bảo tháp, chúng con kính xin chư Tôn Thiền đức dành cho chúng con chút thời gian quý báu nầy để dâng nỗi niềm cảm niệm ân sư của chúng con lên Giác linh Hòa thượng Bổn sư, người đã dày công giáo dưỡng chúng con nên người hôm nay.

Kính bạch Giác linh Hòa thượng

Chúng con – những người học trò thân thương, những đệ tử tâm thành và môn đồ pháp quyến cả hai hàng đệ tử xuất gia và tại gia đồng quỳ trước di ảnh và Kim quan của Hòa thượng hôm nay, ngưỡng mong Ngài chứng minh cho tấm lòng kính quý của chúng con. Còn một ít thời gian nữa thôi, chúng con xin được phép tôn xưng Hòa thượng bằng tiếng Thầy kính yêu. Bởi vì, với chúng con, Thầy thiêng liêng lắm! Thầy là người dìu chúng con đi trên con đường tu học gian nan khó nhọc, để vươn khỏi thế giới u mê mộng ảo. Thầy là con thuyền từ to lớn, chở tất cả chúng con vượt qua những sóng gió đảo điên vọng tưởng khổ đau. Thầy là nguồn sáng quang minh của ánh mặt trời xua tan bóng tối vô minh bao phủ chung quanh.

Kính bạch Giác linh Thầy

Năm xưa, có lần Đức Thế Tôn nhập đại định Sư Tử Tần Thân, Bồ Tát Văn Thù từ trong rừng đi ra, thật là uy nghi như một con voi chúa ngoảnh nhìn các vị Tỳ Kheo ngưỡng mộ. Chỉ một ánh mắt thân thiện như một Tượng vương đó thôi, mà các vị Tỳ Kheo đã tỏ ngộ lý vô thường, duyên sinh và dũ sạch mọi khổ đau phiền lụy. Hình ảnh đại định Sư Tử Tần Thân và ánh mắt của Tượng vương ấy làm cho chúng con liên tưởng đến cuộc đời tu đạo và hành đạo của Thầy.

Kính bạch Giác Linh Thầy

Hơn 70 năm sống với đời và hơn 50 năm tu đạo và hành đạo, Thầy đã sống hết mình, tu hết mình và dành tình thương mến hết mình cho tất cả chúng con. Hình ảnh sống và tu của Thầy như con Sư tử – vị chúa tể sơn lâm cao quý mang lại sự chuyên tinh hành trì và học tập cho chúng con trong thiền môn thanh tịnh.

Ở với Thầy, sống bên Thầy thật sự chúng con như đồng cỏ mênh mông xanh ngát – an lạc – và bình yên vô cùng. Học với Thầy, chúng con mới biết Thầy giảng dạy, hướng dẫn chúng con như tinh thần của Chúa sơn lâm luôn luôn đánh thức, và đánh thức khả năng tư duy tu tập của chúng con, để loại trừ tất cả mọi u mê, ám chướng.

Thầy là thế! Thầy tận lòng như Thế Tôn đi vào đại định. Thầy xông pha quyết liệt như Chúa sơn lâm vươn mình trong nắng sớm. Vào đại định Sư Tử Tần Thân, Thầy là một lương sư hùng lực, một bậc mô phạm thuần lương, một nhà giáo chân tình dưới mái Chùa thiêng liêng dạy Đạo, và đem Đạo giúp đời.

Suốt năm mươi năm “Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng” Thầy trang trải tâm nguyện và hạnh nguyện của mình, để biến chuyển ngôi chùa Bình An sống động như danh xưng của mình. Một ngôi chùa đơn sơ, mộc mạc, trong sự hành trì tu tập và làm đạo của Thầy, đã trở thành ngôi phạm vũ huy hoàng, thiền môn hưng thạnh, đã thay đổi toàn diện từ hình hài bên ngoài đến máu huyết xương tủy bên trong, suốt năm mươi năm qua.

Nơi Bình An ấy, Thầy đã chia sẽ đạo tình của Thầy đến với tất cả để dưỡng nuôi và chuyển những tâm thức héo hon trở thành tươi thắm; đổi những thô lỗ quê mùa thành từ ái bao dung. Rất nhiều pháp hữu của Thầy tỉnh ngộ sau biến cố sa chân vướng lụy, đã trở lại thiền môn, được Thầy bao dung hỗ trợ từ vật chất lẫn tinh thần, để tươi tỉnh trở thành những bậc “tùng Phật đản sanh, tùng Pháp hóa sanh”, sống những ngày còn lại trọn vẹn công đức.

Kính bạch Giác linh Thầy!

Ngôn ngữ luôn luôn giới hạn ý nghĩa của nó, làm sao chúng con có thể diễn đạt hết nỗi niềm cảm niệm ân sư của chúng con dâng Thầy, Chúng con xin mượn hai câu thơ của Thiền sư Phật Quốc là “Sư Tử Tần Thân phương thảo lục Tượng Vương Hồi Cố lạc hoa hồng” để xưng tán đạo nghiệp và tình thương của Thầy dành cho chúng con.

Kính bạch Giác linh Thầy

Sư Tử vươn mình thơm cỏ xanh

Tượng vương ngoái lại hoa héo hồng

Thầy ơi! Thầy của chúng con là bậc duy nhất trong thiền môn hôm nay. Cuộc đời tu của Thầy đẹp vô cùng, bởi Thầy không màng một chút mảy may danh lợi phù phiểm nào cả, Chưa bao giờ Thầy dạy chúng con chạy theo cơm áo gạo tiền của thế gian mộng ảo. Vấn đề chính của lời Thầy bao năm qua chỉ là chuyển hóa, chuyển hóa và chuyển hóa mà thôi. Phải thay đổi, Thầy dạy phải thật sự đổi thay. Đổi từ lượng đến chất, đổi từ chất đến lượng của người con Phật.

Khi thể lượng bên ngoài chưa thể chuyển được, Thầy dạy chúng con chuyển hóa bản chất bên trong bằng sự quán chiếu tĩnh tu. Khi bản chất bên trong thật sự chưa chuyển được, Thầy dạy chúng con tụng Kinh, niệm Phật dấn thân vào mọi Phật sự để tích Phước, gieo duyên. Khi có thể chuyển hóa hình dáng bên ngoài và nội dung Phật chất bên trong, Thầy dạy chúng con Phước Trí song tu vừa tạo dựng đạo tràng, chùa viện, thiền môn, vừa hướng dẫn Tăng Ni Phật tử tu học, vừa hành trì tụng Kinh, niệm Phật, trì chú, tọa Thiền, v.v… để trọn vẹn bổn nguyện phụng sự chúng sanh, đền ân Tam Bảo.

Cuộc đời Thầy là thế, từ lúc đến cho đến lúc đi không một chút danh đọng trên áo, không một chút lợi hoen ố trong tâm. Hình ảnh Thầy cao quý làm sao, hùng lực làm sao và thiêng liêng làm sao. Ôi chúng con không thể diễn tả cho tường!

Chúng con vô cùng cảm niệm ân đức Thầy đã khơi niềm Đạo, gieo hạt giống Phật, chăm sóc và dưỡng nuôi thân Bồ đề của chúng con vươn cao và rợp bóng trong rừng Thiền Việt nói riêng và Thiền Lâm của đạo Phật hôm nay và mai sau.

Tất cả chúng con xin thành kính dâng nén ngũ phần tâm hương; Giới hương, Định hương, Huệ hương, Giải thoát hương và Giải thoát tri kiến hương cúng dường Giác linh Thầy. Ngưỡng nguyện Giác linh Thầy cao đăng Phật quốc, hồi nhập Ta Bà, quảng độ chúng sanh.

 

NAM MÔ TỪ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP TAM THẾ, BÌNH AN TỰ ĐƯỜNG THƯỢNG thượng ĐỒNG hạ CHƠN, hiệu MINH CHIẾU, tự THÔNG THIỆN HÒA THƯỢNG GIÁC LINH

Môn đồ Pháp quyến

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/11/2010(Xem: 10484)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11213)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10543)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 15463)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 46849)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 9914)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8464)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8642)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8458)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8294)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự