Năm Tháng Có Đợi Chờ ?

18/04/202018:25(Xem: 6894)
Năm Tháng Có Đợi Chờ ?


ht dong chon 1ht dong chon 2





Năm Tháng Có Đợi Chờ ?

 Thấm thoát đã hai mươi mấy năm, kể từ ngày con rời xa thầy vào trong miền Nam học Đạo. Đường đời vạn nẻo, đường chơn tu vạn thử thách cho kẻ sơ cơ. Cuộc sống có những thăng trầm và muôn vàn thử thách mà người xuất gia học đạo cần phải “kiên tâm, bền chí, và giữ vững đạo tâm thì mới đạt được chí nguyện của mình”. Lời thầy dạy vẫn còn vang lên trong con như mới hôm nào, từng cái gõ đầu nhắc nhở, bao lần thầy la con để trang nghiêm giới pháp cho con…. ..Vẫn còn đâu đó ký ức hẳn như mới mẽ. Ấy vậy mà, thoảng chốc như cung tên bắn mạnh vào trời không, con chợt ngỡ ngàng chựng lại khi chiều nay nghe tin “Thầy đã thâu thần thị tịch”.

Thầy ơi, con thật muốn hét lên trong muôn vàng nỗi nhớ. Cảm xúc bao năm tháng xưa cứ mồn một ùa về khiến lòng con đau nhói, cả bầu trời Phan Rang – Ninh Thuận nơi con ở, cũng như chợt xầm lại, buồn tiếc thương trong nổi nhớ thầy.

Nhớ ngày ấy, con còn dại lắm, bước đầu xuất gia học Đạo con còn nhiều vụng về thiếu biết. Lúc được Bổn Sư dẫn con đến chùa Bình An thọ giáo và học Giới luật nơi thầy, cùng Tăng- Ni thời bấy giờ, lòng con vô cùng háo hức, nhưng cũng pha chút sợ sệt trước uy nghiêm của thầy. Từ 4 giờ sáng, con đạp xe từ chùa Nhạn Sơn xuống chùa Bình An, cùng các điệu chúng nấu bữa cháo sáng cho thầy. Rồi ngay ngắn ngồi vào chiếc bàn gỗ cũ kỹ, đợi thầy lên dạy. Đều đặn như vậy mỗi sáng, dù là lúc thầy bệnh, thầy cũng thường nhật lên lớp dạy Luật cho chúng con. Cứ một muỗng cháo một hồi giảng, cho đến khi hết thời giờ sáng mà thầy vẫn còn chưa húp xong bát cháo. Vì thương chúng con thầy thật chẳng chút nề hà mà truyền trao từng lời dạy.

Con hẳn còn nhớ, các huynh đệ theo học có cả các Tăng- Ni sinh trong lớp Trung cấp Nguyên Thiều tới học Luật, riêng con lúc nào cũng bị thầy rầy nhiều nhất. Thầy bảo “sao con ngu thế, học thế bao giờ mới biết”, còn lúc thầy còn cốc đầu con rồi vừa nghiêm khắc vừa cười thương. Có lúc con cũng thật ngơ ngáo không hiểu sao thầy cứ rầy hoài. Đến nỗi về sau cả lớp lần lượt nghỉ học vì có duyên sự, chỉ còn mình con theo thầy học, thầy cũng còn rầy con là “ngu quá”. Ngu vậy, nhưng thầy cũng không bỏ con mà một thầy một trò, vẫn dạy và học cho đến câu “Nhất tâm bất sanh, Vạn pháp câu tức” câu cuối cùng “Quy Sơn Cảnh Sách”, rồi thầy mới nghỉ. Con vẫn còn nhớ cái buổi học cuối cùng đó. Lần đầu tiên trong đời thầy không gõ đầu và cười với con. Thầy bảo “con ngu lắm. Đời dạy học của thầy, con là đứa học trò theo học thầy bốn cuốn Luật mà không bỏ xót một chữ nào. Sau này hãy nương vào đó mà thực hành cho tinh tấn chớ để xao lãng. Sau này nếu còn duyên, con về đây thầy sẽ dạy kinh Di Đà cho mà hiểu, thầy cũng mong trước lúc ra đi dạy nốt cho con cuốn kinh này”.

Ấy vậy mà thời gian nào có đợi, con còn bận bịu Phật sự chưa kịp về thăm thì thầy đã ra đi thật rồi. Trong con hãy còn nhiều điều chưa kịp nói, chưa kịp một lần về tạ ơn thầy thì thầy đã khuất bóng. Nếu ngày ấy thầy chẳng nghiêm khắc dạy cho con nên người, nếu bao lần thầy chẳng gõ đầu cho con tỉnh ngộ, dạy cho con biết cái ngu “trong vô minh vô thỉ” thì có lẽ con đã không thể nào lãnh ngộ được “giới luật- mạng mạch Phật Pháp” vậy.

Vâng lời thầy, con vẫn ngày đêm nghiêm tầm và dịch sách, từng lời thầy dạy xưa nay con hằng khắc ghi trong lòng và dịch chú giải lại bộ “ LUẬT TRƯỜNG HÀNG” , như một lời cảm ơn và kế thừa tâm nguyện của thầy.

Hôm nay thầy đã xa rồi

Bóng hình dầu khuất sau đồi cỏ xanh

Lời thầy “giới đức tu hành”

Con nguyện xin giữ đặng thành Đạo Tâm.

Đệ tử Đồng Niệm xin được lần nữa hướng về Thầy với lòng biết ơn vô hạn. Nguyện một đời nối gót hiền nhân, tiếp nối lời Thầy trên mỗi bước đi. Thành kính đảnh lễ và nguyện cầu Thầy, Hòa thượng Thích Đồng Chơn, người thầy khả kính, bậc cao giới luật hạnh nghiêm, cao đăng Phật Quốc!

 



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/12/2010(Xem: 24015)
Từ thơ ấu, Tuệ Trung đã được khen là thông minh và dịu dàng. Giữ chức Thống Đốc Hồng Lô (bây giờ là tỉnh Hải Dương), ngài đã hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lược, và được thăng chức Tiết Độ Sứ trấn cửa biển Thái Bình.
17/12/2010(Xem: 10842)
.Thế là đại hạn đến rồi ! - Giường hạc canh thâu (1) phút mộng tàn, Nghìn thu vĩnh biệt nẻo nhơn gian ! .Thật vậy! - Hóa thân Báo xả siêu sinh tử, Chân tánh quang thu nhập Niết bàn. .Tuy nhiên - Chết chẳng sợ sa đường địa ngục Sống không ham đến ngõ Thiên đàng. Thế thì Người đi đâu ? - Cân bình nửa gánh về quê Phật, Để lại trần gian ngọn Pháp tràng !
17/12/2010(Xem: 12344)
NGHI BÁO TIẾN CÚNG DƯỜNG HÚY KỴ HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC TÁNH TRỤ TRÌ TỔ ĐÌNH THIÊN ĐỨC (Mùng 04 - tháng Giêng - ÂL)
16/12/2010(Xem: 14024)
Xin cầu nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc, bình an và giải thoát. Tác giả mang ơn sâu đối với Thiền Sư Thích Thanh Từ và Giáo Sư Tiến Sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát vì các công trình nghiên cứu và dịch thuật của hai thầy mà tác phẩm này đã dựa vào để tham khảo; và đối với bổn sư tác giả là Thiền Sư Thích Tịch Chiếu. Tác phẩm này được đặc biệt dâng tặng tới các thế hệ trẻ, và phổ quát dâng tặng cho tất cả chúng sinh.
16/12/2010(Xem: 8137)
Lời Phát Biểu của HT Huyền Quang tại Tang Lễ Ôn Đôn Hậu ngày 3-5-1992
10/12/2010(Xem: 13510)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
04/12/2010(Xem: 8953)
Thái Tử Tất Đạt Đa từ bỏ cung vàng điện ngọc vợ đẹp con thơ, để ra đi tìm phương giải thoát cho chính mình và chúng sanh. Lối 1332 năm sau Thái Tử Trần Khâm (1258-1308) cũng giã từ cung vàng tìm đến núi Yên Tử để xin xuất gia, mong trở thành sơn tăng sống cuộc đời thanh thoát. Nhưng vì vua cha ép buộc nên phải trở về để kế nghiệp trị dân. Ngay từ lúc nhỏ ông dốc lòng mộ đạo Phật ước muốn được đi tu, năm lên 16 tuổi Trần Khâm đã nhường ngôi vị Đông Cung Thái Tử cho em, vua cha nài ép mãi ông mới nhận lời. Dù không được đi xuất gia lúc bấy giờ, nhưng nơi ông đã thể hiện được con người siêu việt khác thường.
02/12/2010(Xem: 10789)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 37519)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 14549)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn