Tâm Nguyện Bao La (Kính dâng Giác Linh HT Thích Đồng Chơn)

10/04/202017:44(Xem: 7529)
Tâm Nguyện Bao La (Kính dâng Giác Linh HT Thích Đồng Chơn)


ht thich dong chon-28

Tâm Nguyện Bao La



Kính bạch Giác linh Hoà thượng

 

Khi đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài thường tán dương những vị đệ tử tu tập tinh tấn hay phụng sự làm lợi ích chúng sanh. Đó là niềm khích lệ lớn lao cho những đệ tử được bậc Thầy giác ngộ vĩ đại dành tặng. Ngược lại, Phật cũng khiển trách những vị có những lỗi lầm nhằm giáo dục họ đi đúng đường thiện, đường giải thoát. Sự khiển trách đó thể hiện lòng từ bi của đức Phật vì giáo hoá chúng đệ tử.

Đối với đức Thế Tôn, Ngài được rất nhiều người tán thán, ca ngợi như chư thiên tán thán: “giữa thiên giới, địa giới, Phật là bậc tối thắng” (Tương Ưng bộ kinh); vua chúa ca ngợi: “Thật hy hữu thay chúng Thích tử này thật khéo huấn luyện, không cần sử dụng đến gậy và kiếm” (Kinh Trung bộ); Bà-la-môn ca ngợi: “Sa môn Gotama là bậc có đủ mười hiệu”…. “Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, chánh đẳng giác” (Kinh Tăng chi); đệ tử ca ngợi: con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng trong quá khứ, trong vị lai cũng như trong hiện tại không thể có một sa môn, Bà-la-môn nào vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện giác ngộ” (Kinh Trường bộ)…

Nhắc lại sự ca ngợi, tán thán, khen tặng để biết rằng đó là điều không thể thiếu trong cuộc sống, nhất là đời sống đối đãi cõi nhân sinh. Từ đó, xin liên hệ đến trường hợp của Hoà thượng thượng Đồng hạ Chơn.

Khi còn sanh tiền, là một bậc thầy, một giáo thọ sư, chắc chắn Hoà thượng cũng từng khen ngợi những học trò ưu tú, xuất sắc trong học hành hay tinh tấn trong tu tập và la rầy, nhắc nhở những vị còn lơ là trong việc tu học với lòng từ bi, bao dung. Điều đó thể hiện rõ trách vụ của bậc thầy và phù hợp với lời đức Thế tôn giảng dạy.

Chiều ngược lại, những đệ tử, những học trò cũng “ca ngợi” đức hạnh, trí tuệ và tính cách của Hoà thượng nhưng có lẽ hiếm khi họ biểu lộ một cách trực tiếp. Và nếu được “ca ngợi” trực tiếp, có lẽ Hoà thượng cũng khó lòng mà hãnh diện bản thân bởi Hoà thượng là bậc rất khiêm cung trong cuộc sống.

Do đó, theo lẽ thường, dịp để đệ tử, học trò ghi nhớ, cảm niệm chân thành về Hoà thượng lại là lúc Hoà thượng đã viên tịch bởi đây là lúc họ có thể bày tỏ tự nhiên nhất. Tất nhiên, những điều cảm niệm phải là những bài học cho các thế hệ sau về tấm gương của Hoà thượng. Tấm gương ấy sẽ đi theo những thế hệ đệ tử, học trò và còn tiếp nối cho các thế hệ sau nữa.

Sau khi “nghỉ hưu” để nhường lại cơ hội cho hàng Tăng Ni trẻ đảm nhiệm giảng dạy tại Trường TCPH Bình Định, Hoà thượng vẫn tiếp tục việc giảng dạy nơi bổn tự Bình An cho Tăng Ni cầu học, nhất là các dịp An cư. Bởi vì, Hoà thượng cũng luôn ưu tư, mong muốn truyền trao kiến thức, kinh nghiệm cho hàng học trò vì Hoà thượng luôn tin rằng dù học trò có bằng cấp nhưng vẫn còn thiếu kinh nghiệm và kiến thức thực nghiệm. Với hoài bão đó nên mỗi khi có dịp gặp hàng học trò Hoà thượng đều tận dụng thời gian giảng dạy mà không cần lớp học như thường lệ. Hoà thượng còn có nhiều ý nguyện khác như đến các đạo tràng An cư để giảng dạy chúng Tăng nhưng ước nguyện đáng quý ấy chưa được thực hiện nhiều vì bệnh tật. Dù ý nguyện chưa thành tựu nhiều nhưng nó cũng đã làm cho hàng hậu học chúng con cảm kích tinh thần giáo dục không mệt mỏi của Hoà thượng.

Giờ đây, Người đã nhẹ nhàng vân du theo sở nguyện độ sanh. Hàng hậu học chúng con ôn lại những kỷ niệm có được với Hoà thượng như là một sự ca ngợi công đức của Hoà thượng và cũng là nhắc nhở chính chúng con về trách vụ của người đệ tử Phật.

Xin đảnh lễ tri ân Hoà thượng!

 

Hậu học TK. Thị Ngộ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/10/2019(Xem: 6868)
Hòa thượng đạo hiệu Thích Minh Cảnh, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 40. Hòa thượng thế danh Nguyễn Hữu Danh, sinh ngày 12-11-Đinh Sửu (1937) tại làng Mỹ Tho, quận Cao Lãnh (Đồng Tháp). Hòa thượng xuất thân trong gia đình kính tin Tam bảo, thân phụ là cụ ông Nguyễn Minh Biện, pháp danh Minh Chiếu, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Mậu, pháp danh Diệu Thiệt. Hòa thượng là người con út, là con thứ 9 (miền Nam gọi là thứ 10) trong gia đình có 9 anh chị em, với bốn người anh, chị xuất gia tu học.
20/10/2019(Xem: 7317)
TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG GIỚI NGHIÊM (THITASÌLA MAHATHERA) (1921 - 1984) Nguyên: - Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravàda) Việt Nam. - Thành viên Hội Đồng Chứng Minh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. - Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. - Phó Chủ Tịch Hội Hữu Nghị Việt Nam - Campuchia.
20/10/2019(Xem: 27035)
Hòa thượng Giác Khang thế danh Tô Văn Vinh sinh năm 1941 tại tỉnh Bạc Liêu. Thân sinh là cụ ông Tô Khanh. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Vén. Gia đình có 5 trai, 5 gái. Hòa thượng là con thứ 8 trong gia đình. Hòa thượng tốt nghiệp Tú Tài và học Cao đẳng Sư phạm. Ra trường đi dạy học ở Cái Côn – Cần Thơ.
20/10/2019(Xem: 5734)
Hòa Thượng Thích Huệ Quang (1927 - 2009) - Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Chứng minh Ban trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hòa - Huynh Trưởng Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương - Viện chủ Chùa Đông Phước, Phước Long, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
20/10/2019(Xem: 7763)
Hoà thượng Thượng HOÀN Hạ QUAN, thế danh Phạm Ngọc Thơ. Pháp danh NHƯ CỤ THIỆN. Pháp tự GIẢI TOÀN NĂNG. Pháp hiệu THÍCH HOÀN QUAN. Sinh ngày 16-09-1928 (Năm Mậu Thìn) tại làng Phước Long, nay là thôn Hoà Bình xã Nghĩa Hoà huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Song thân của Ngài là Phạm Công Phạm Khánh Lâm và Cụ bà là Trần Thị Thưởng. Cụ Ông và Cụ bà đã hạ sinh được 6 người con, gồm 2 trai 4 gái, Ngài là người con thứ 5 trong gia đình.
20/10/2019(Xem: 4860)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc. Năm 21 tuổi (1916) nhận thấy cảnh thế phù du, cuộc đời là vô thường, giả tạm, Ngài quy y thọ giới tại chùa Cảnh Tiên. Năm 22 tuổi (1917) Ngài được nhập chúng tu học ở chùa Quang Lộc trong tỉnh, được ban pháp danh Chơn Húy. Sẵn có căn bản Hán học vững chắc, Ngài thâm nhập kinh tạng rất mau chóng. Ngài lần lượt thọ giới Sa Di và nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát với pháp hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Ngài trở thành một vị giảng sư Phật học nổi tiếng.
20/10/2019(Xem: 8101)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc. Năm 21 tuổi (1916) nhận thấy cảnh thế phù du, cuộc đời là vô thường, giả tạm, Ngài quy y thọ giới tại chùa Cảnh Tiên. Năm 22 tuổi (1917) Ngài được nhập chúng tu học ở chùa Quang Lộc trong tỉnh, được ban pháp danh Chơn Húy. Sẵn có căn bản Hán học vững chắc, Ngài thâm nhập kinh tạng rất mau chóng. Ngài lần lượt thọ giới Sa Di và nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát với pháp hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Ngài trở thành một vị giảng sư Phật học nổi tiếng.
20/10/2019(Xem: 7614)
Cố HT. Bửu Chơn tên thật Phạm Văn Tông, sinh ngày 25/10/1914, tại làng An Hội ‒ Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Ngài là con của cụ ông Phạm Văn Dư và cụ bà Lê Thị Dương. Tuổi thơ, ngài học ở trường làng, trường Tây, nhờ siêng năng, chăm học nên đã đậu bằng Preme. Năm 1930, ngài sang Nam Vang làm công chức trong cơ quan Việt Nha địa chính.
20/10/2019(Xem: 6524)
Hòa thượng Phước Hậu, pháp húy Trừng Thịnh, pháp tự Như Trung, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 42. Ngài thế danh Lê Văn Gia, sinh năm Bính Dần(1866), nhằm Tự Đức thứ 15, tại xã An Tiêm, huyện Đồng Quan, tỉnh Thái Bình.