Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

nguyen phuc chu-1


CHÚA - BỒ TÁT MINH VƯƠNG

NGUYỄN PHÚC CHU (1675 – 1725)

VÀ CÔNG NGHIỆP MỞ MANG,

PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Đặng Hùng Anh*


Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu là bậc hiền tài. Ngoài lập công lớn trong việc mở mang bờ cõi, Ngài còn có công lao lớn trong việc xây dựng và phát triển Phật giáo xứ Đàng Trong. Ngài đem đạo và đời một cách sáng tạo như biết dung hóa Phật - Nho để áp dụng vào việc ích nước, lợi dân.

Chúng ta tìm hiểu về cuộc đời của Ngài cũng là để làm sáng tỏ công nghiệp trên.

I. QUỐC CHÚA NGUYỄN PHÚC CHU CÓ PHẢI LÀ BỒ TÁT KHÔNG?

Muốn trả lời câu hỏi trên trước hết ta phải biết Bồ Tát là ai và sau đó tìm hiểu Quốc Chúa qua nhiều mặt.

Trong bài giảng về Bồ Tát Đạo, Hòa thượng Tiến sĩ Thích Trí Quảng cho biết nhân gian sinh đến với đời làm lợi ích cho chúng hữu tình. Hòa thượng cho biết thêm: “Bồ Tát thọ sanh thường chọn cha mẹ có tính tâm, có quan hệ với Tam Bảo, như vây để khi còn trong thai mẹ đã tiếp tục nghe mẹ tụng kinh, nghe cha học đạo”[1].

Trong bài Nghĩa về trái tim, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc viết: “Bồ Tát dịch từ Bodhisatva và có nghĩa là người đã giác ngộ, đã tỉnh thức và đang giúp cho người khác cũng giác ngộ, cũng tỉnh thức như mình”[2]. Cũng trong bài nói trên, ông còn thêm: “Bồ Tát tuy tự thân là Phật, đã tự do, tự tại nhưng chính lòng yêu thương “cõi người ta”, làm cho họ nấn ná lại giúp đời. Vậy chẳng thú vị chẳng dễ thương hay sao”[3].

Ta có thể hiểu Bồ Tát là những người đã chứng đạt đạo vô thượng, nhưng vì thương chúng sanh nên sinh vào cõi đời để giúp đỡ, hóa độ. Do tụ tập tích lũy, trí tuệ, phước đức nhiều đời nên các Ngài sanh lại cõi trần thường là những người có đức tài vượt trội, sanh vào gia đình hưởng nhiều phước báu nhưng có đạo tâm, giàu sang, quyền quý, hoặc chọn bất luận hoàn cảnh sang hèn miễn là thuận tiện cho việc độ sanh.

Bồ Tát tái sanh trên thế giới quên hết chuyện kiếp trước nhưng Ngài lại có trí tuệ và phương tiện để hành Bồ Tát đạo[4]

Theo kinh Đại thừa, người có trí tuệ và đức hạnh giúp ích nhiều cho con người cho cuộc đời gọi là Bồ Tát, chứ không nhất thiết là xuất gia. Khi xuống trần, Bồ Tát là con người cụ thể: có vị trí, hoàn cảnh cụ thể nên cũng có bổn phận, trách nhiệm cụ thể.   

Việc các Ngài làm, người thường khó biết được. Muốn xác định vị trí Bồ Tát, chúng ta cần xem mức ảnh hưởng của các Ngài đối với công việc, cuộc đời và thành quả cống hiến cho đời[5].

II. THÂN THẾ NGUYỄN PHÚC CHU 

Nguyễn Phúc Chu sinh năm 1675 mất năm 1725. Ở ngôi Chúa được 34 năm, thọ 51 tuổi. Ông là con trưởng của Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn, mẹ là Tống Thị Đôi. Đại Nam thực lực tiền biên ghi: “Mẹ của Quốc Chúa được dâng vào hậu triều, sau đó được tuyển vào cung tần. Đến khi có thai, ở phương Tây Nam trên trời mở ra một lỗ, có mấy sắc vây bao bọc chung quanh, giữa một nguồn sáng rực rỡ tỏa ngay xuống chỗ Mẫu hậu ở. Người thức giả cho là điềm tốt. Đến lúc sinh thì được một trái ánh sáng tỏa rực khắp nhà đấy chính là Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế”[6].

Nguyễn Phúc Chu văn võ toàn tài, lên ngôi Chúa khi 17 tuổi. Ông là người trong đạo Nho, lại là một Phật tử thọ Bồ Tát giới, có công trong việc hộ pháp và hoằng pháp. Khi trị vì, ông đã thành công lớn trong cuộc mở mang bờ cõi, xây dựng cuộc sống xứ Đàng Trong.

III. CÔNG NGHIỆP

Lên ngôi, Chúa áp dụng nhiều chính sách chiêu hiền đãi sĩ, giảm thuế má trăm họ đều mừng.

1/ Xây dựng các mặt

  1. a.      Cơ chế quan lại

Cải cách cơ chế trung ương, định lại quan tước, phẩm hàm.

Đặt kỳ thi Văn chức và Tam Ty để kiểm tra quan tại chức.

  1. b.      Kinh tế

Chúa có tầm nhìn rộng, thoáng và mới mẻ. Bỏ việc “Bế môn tỏa cảng” có từ đời Chúa trước, cho tàu Tây Âu vào ra buôn bán. Dùng người thuần phục như Hoàng Tiến, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu, mộ dân phiêu bạt từ Quảng Bình vào để lập làng khai khẩn ruộng đất. Lập xã Thanh Hà, Minh Hương cho cộng đồng người Hoa[7].

c. Quân sự

Chúa biết dùng người Tây Âu để huấn luyện binh pháp và kỹ thuật quân sự. Quân đội luyện tập thường xuyên thành một đội quân hùng mạnh.

Chúa chủ trương thi cử nghiêm túc để khỏi sơ sót trong việc chọn nhân tài. Lúc cần, Chúa cho thi lại tự mình ra đề thi.

2/ Mở mang, bình định xứ Đàng Trong và giữ gìn lãnh thổ

Năm 1692, vua Chiêm Thành là Bà Tranh chống đối, làm loạn ở phủ Liêu Ninh, Chúa cho quân đi bắt được, trong đó có cả đình thần cùng quyến thuộc để đem về Phú Xuân. Nhân đó đổi nước Chiêm Thành thành trấn Thuận Thành, sau cho con cháu Bà Tranh làm đề đốc tự quản.

Năm 1697, Chúa đặt ra phủ Bình Thuận và lấy đất còn lại của Phan Rang làm huyện Yên Phúc và huyện Hoa Đa.

Năm 1698, Chúa ra lệnh cho Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý đất Đông Phố nơi có dân ta vào sinh sống lập dinh Trấn Biên (Biên Hòa) và dinh Phiên Trấn (Gia Định).

Năm 1700, có thêm vùng Sông Bé, La Ngà và Tánh Linh.

Năm 1703, Công ty Ấn Độ của Anh đem 200 quân và 20 chiếc thuyền chiếm đảo Côn Lôn, Chúa giao cho trấn thủ dinh Trần Biểu là Trương Phúc Phan dùng mưu đánh đuổi được.

Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên (gồm 7 xã do tự mình sức dân khai hoang thành lập). Chúa nhận lời và giao cho Mạc Cửu làm tổng binh trấn giữ.

IV. ĐẠO HẠNH

Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu là người trọng đạo Nho, được khép mình trong cương thường của Nho giáo, lại là một Phật tử thuần thành. Ông xây một loạt chùa miếu, sửa chữa lớn và đúc chuông lớn ở chùa Thiên Mụ đến nay vẫn còn.

Thời của Chúa Nguyễn Phúc Chu, đạo Phật đã truyền và đất Nam Kỳ; chùa Vạn An ở Phước Tuy lập năm 1711, chùa Tam Bảo ở Hà Tiên do Mạc Cửu lập những năm 1780 - 1725.

Ông cho mời nhà sư Thích Đại Sán từ Trung Hoa sang mở giới đàn truyền Bồ Tát giới cho Chúa, quan lại, quyến thuộc và 1.400 tăng ni. Ông còn cho thỉnh 1.000 kinh sách. Ông từng ăn chay một tháng ở Côn Gia, phát gạo, tiền cho dân nghèo. Ông còn có pháp danh là Hưng Long, đạo hiệu Thiên Túng Đạo Nhân.

Tìm hiểu về cuộc đời của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu, ta thấy ông là người được sinh ra nơi quyền quý, có truyền thống theo đạo Phật. Ông là vị Chúa đức độ. Là Phật tử, ông tu tập gương mẫu, đầu tư nhiều tài sức trong việc hoằng pháp và hộ pháp. Chính nhờ sự nhiệt thành của Quốc Chúa đã lôi kéo nhiều thành phần quý tộc, quan lại theo đạo, ủng hộ Phật giáo, tạo thuận lợi trong việc gieo rắc ánh đạo vàng trong quần chúng. Việc tổ chức Giới đàn truyền Bồ Tát giới là một sự việc văn hóa lớn mang tầm quốc gia. Những công đức của Chúa làm vị thế của Phật giáo được nâng cao, là chỗ dựa tinh thần đáng tin cậy của nhân dân.

Do đó, ta có thể nói Quốc Chúa Nguyễn phúc Chu là Bồ Tát tái sinh giúp đời.

V. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA QUỐC CHÚA NGUYỄN PHÚC CHU VỚI VAI TRÒ CHÚA - BỒ TÁT TRONG SÁCH LƯỢC MỞ RỘNG BỜ CÕI THÀNH CÔNG

Trong công cuộc mở mang bờ cõi của Chúa Bồ Tát Nguyễn Phúc Chu, ta thấy phương pháp “tùy duyên hóa độ” của đạo Phật và “tùy cơ ứng biến” của nhà Nho gặp nhau ở sách lược linh hoạt mà Ngài áp dụng. Trong sách lược này tùy đối tượng, tùy tình hình mà có những hình thức ứng xử thích hợp.

Đối với đất Chiêm Thành khi còn là một vùng đất nhỏ, vua Bà Tranh nổi loạn gây mất an ổn trong nhân dân, Ngài dùng biện pháp cứng rắn: dùng quân sự trấn áp, sai tướng quân đi bắt, đổi đất Chiêm Thành thành trấn Thuận Thành rồi cho cháu Bà Tranh cai quản.

Đối với vùng đất Hà Tiên xa xôi, Ngài dùng ân đức để chinh phục. Mạc Cửu phục ân đức của Ngài mà dâng đất. Chúa thuận lời và cũng tin tưởng giao cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn giữ.

Đối với vùng Đồng Nai, Biên Hòa, Ngài dùng sách lược khôn khéo lấn dần cho dân vào khai phá trước, lính vào sau bảo vệ và sau đó lập chính quyền.

Đối với cùng Thủy Xá, Hỏa Xá là đất Tây Nguyên chỉ có các dân tộc thiểu số sinh sống, Chúa định cơ chế xã hội rồi cho tự trị.

Tinh thần Phật giáo đại hùng, đại lực, đại từ bi thấm vào sách lược mở cõi mang tính tích cực, nhân bản, khoan dung như khi bắt được vua Chiêm cùng đình thần, gia quyến đem về Phú Xuân kể tội nhưng cung cấp tiền gạo, vải đầy đủ. Vua Chiêm mất. Chúa cấp tiền nhiều để an táng. Bình định đất đai, giữ an ninh trật tự nhưng hạn chế dùng vũ lực để tránh đổ máu “Bỏ xa hoa bớt chi phí, nhẹ thuế má, bớt lao dịch, bớt hình ngục” biến thành chủ trương lâu bền, lồng vào sách lược, áp dụng rộng rãi các nơi nên được sử sách ghi lại ca ngợi.

VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA THIÊN TÚNG ĐẠO NHÂN TRONG VIỆC DUNG HÓA PHẬT - NHO MANG ĐẶC ĐIỂM VIỆT NAM

Thiên Túng Đạo nhân Nguyễn Phúc Chu là người đưa ra chủ trương “Cư Nho mộ Thích”. Việc dung hòa Phật - Nho thể hiện qua các sự kiện, thái độ trọng thị, dung hòa của ông. Trong thời gian trị vì, ông cho người sang mời cao tăng Thích Đại Sán ở Trung Hoa sang tổ chức giới đàn ở chùa Thiên Mụ. Chúa cùng quan lại quyến thuộc và số đông tăng ni thọ Bồ Tát giới. Chúa thọ giới riêng với vẻ chí thành: “Ngày đó nắng gắt, người Vương mập mạp quỳ lâu mồ hôi thấm cả mấy lớp áo. Vị dẫn thỉnh sư mời Vương nghỉ một chút lúc dâng lễ sẽ quỳ trở lại. Vương bảo: “Ta ít tuổi, vui lòng thọ giới pháp chẳng lấy việc quỳ lâu làm mệt””. Quỳ thọ giới qui y xong, đứng dậy là lễ cầu pháp. Trong lễ này, Minh Vương được Thạch Liêm đặt pháp danh cho là Hưng Long... Chiều hôm ấy tại chùa Thiền Lâm tiếp tục khai đàn truyền Bồ Tát giới cho các Vương huynh (Lệ Truyền Hầu, Thiều Dương Hầu) và cai bá bách quan. Đặc biệt trong giới đàn này có cả Tứ Triều Nguyên lão Đông triều Trần Đình Ân và tất cả các con trai ông hiện giữ các chức rất lớn trong triều[8].

Đồng thời thỉnh ý, trân trọng những lời cao tăng đóng góp vào việc chính sự.

Trong lời tựa Hải ngoại kỷ sự, Chúa Nguyễn Phúc Chu đã có những ngôn từ khá cẩn trọng: “... Từ mùa xuân năm Ất Hợi, Hòa thượng qua đến nơi lưu lại đến mùa hạ năm Bính Tý, được gần gũi hôm sớm, cung dưỡng, chuyện trò sau những giảng luận thiền kinh còn chỉ vẽ cương thường, cương kỹ, từ việc lớn đến việc nhỏ rạch đường chỉ nẻo, lời lẽ rõ ràng khác nào dắt người từ trong chỗ tối tăm đem ra thanh thiên bạch nhật, giúp cho quả nhơn trong việc chính trị biết chừng nào...”9.

Thích Đại Sán cũng gởi cho Chúa một bản điều trần trong đó có bốn biện pháp cần áp dụng để đưa đất nước đi lên[9].

Hình ảnh Quốc Chúa lúc thì nghiêm trang thi lễ ở Quốc Miếu, lúc thì chí thành trước Tam Bảo có tác dụng cổ vũ thần dân sống dung hòa Nho - Phật vì lợi ích chung.

Là Quốc Chúa, để làm tròn trọng trách với quốc dân, Ngài đã biết kết hợp xu hướng nhập thế của Phật giáo với chủ trương "Tu, tề, trị, bình" của Nho giáo áp dụng vào tình hình cụ thể của đất nước. Ông quan tâm đến việc tu bổ chùa, miếu. Năm 1692 sửa Văn miếu, năm 1711 trùng tu chùa Thiên Mụ.

Trong Đại Nam thực lục tiền biên, ta bắt gặp một sự việc lý thú: Quốc Chúa dùng đạo hiệu Thiên Túng Đạo Nhân để phê chuẩn về mặt tổ chức cho một đại thần xin về hưu.

“Quốc Chúa Thiên Túng Đạo Nhân ngự chế thơ và tựa sắc cho tham tri chánh đoán sự Đông triều hầu Trần Đình An từ chức về làng. Khanh trải giúp bốn triều quốc chính triều cương, có nhiều giúp đỡ. Bề tôi siêng năng duy khanh hơn cả”[10].

Đông triều hầu Trần Đình An được Quốc Chúa Thiên Túng Đạo Nhân cho nghỉ hưu về làng[11]. Thiết nghĩ sự việc này không phải một lần, cũng không phải là ngẫu hứng. “Xét tương quan nhân quả thì sự ổn định, hưng thịnh bắt nguồn từ ý thức nội tâm. Tâm an thì ngoại cảnh sáng dựa trên triết lý Đạo Phật chi phối”[12]. Với đạo hiệu Thiên Túng Đạo Nhân, Chúa Nguyễn Phúc Chu tỏ rõ lập trường của mình là dung hòa Phật - Nho áp dụng vào chính sự, hình thành trong thần dân một lẽ sống tự tin, vị tha, thấu lẽ tự nhiên, không cố chấp, có kỷ cương, đạo nghĩa...

Khi đã có lẽ sống tốt đẹp, con người tâm ân, chí vững tạo thêm sinh lực để xây dựng cuộc sống ngày càng an vui hưng thịnh. Đó cũng là cơ sở giúp Quốc Chúa thành công và là cách hành xử thông minh mang đặc điểm Việt Nam.

 

 

VII. KẾT LUẬN

Chúa Bồ Tát Minh Vương Nguyễn Phúc Chu có đức độ, tài trí hơn người. Công nghiệp của Ngài thật vĩ đại. Trong thời gian ở ngôi Chúa, Ngài đã mở mang nhanh chóng vùng đất rộng lớn như cực Nam Trung bộ, Nam bộ, Tây nguyên làm nước ta thêm lớn mạnh, góp phần ổn định trật tự an ninh khu vực; có công lớn trong việc xây dựng và phát triển Phật giáo xứ Đàng Trong; đem đạo và đời một cách sáng tạo phù hợp với đặc điểm  nước ta. Ngài biết dung hòa Phật - Nho đem áp dụng vào đời để đạt mục đích mở mang bờ cõi, đem lại cuộc sống tốt lành cho nhân dân. Ngài gieo hạt giống Bồ Đề vào vùng đất mới cho cư dân thấm dần hương từ bi và vị giải thoát mà vươn lên.

      Chúa Bồ Tát Minh Vương Nguyễn Phúc Chu để lại một trang lịch sử huy hoàng đáng tự hào của dân tộc. Tâm nguyện Bồ Tát của Ngài còn ngân mãi theo Tiếng Chuông Thiên Mụ qua lời mình khắc trên chuông: Duy nguyện phong điều vũ thuận, Quốc thái dân an, pháp giới chúng sanh đồng viên chủng trí (Nguyện cầu gió hòa mưa thuận, nước thịnh dân an, chúng sinh trong pháp giới đều được vẹn tòan trí tuệ).



* TP. Hồ Chí Minh.

[1] HT Thích Trí Quảng, Bài giảng Đền Ơn Đáp Nghĩa, TB Giác ngộ số 489, 2009, tr. 12.

[2] BS. Đỗ Hồng Ngọc, Nghĩ về trái tim, TC Kiến thức ngày nay, số 464, 2003,  tr. 54.

[3] BS. Đỗ Hồng Ngọc, Nghĩ về trái tim, TC Kiến thức ngày nay, số 464, 2003,  tr. 54.

[4] HT Thích Trí Quảng, Bài 8 Phật Đạo, TB Giác Ngộ số 169, 2001; Bài 11 Bồ Tát Đạo, NS Giác Ngộ 172, 2010.

[5] HT Thích Trí Quảng, Sđd, tr. 89.

[6] Đại Nam thực lục tiền biên, Q.1, tr. 105 (8) Nguyên Anh (http://www.lieuquanhue.co.vn/7/61/3507html)

[7] Nguyên Anh (http://www.lieuquanhue.co.vn/7/61/3507html)

[8] Dẫn theo: Lê Nguyễn, Xã hội Đại Việt dưới con mắt người nước ngoài, tr. 10.

[9] Lê Nguyễn, sđd.

[10] Đại Nam thực lục tiền biên, Q. 1.

[11] Theo Đại Nam thực lục tiền biên. Trần Đình An về hưu ở chùa Bình Trung, huyện Minh Lung, dựng đá khắc tờ thư đặt trước cửa chùa, lấy thiền học làm vui.

[12] TT. Tiến sĩ Thích Đồng Bổn, Vai trò chính trị của các tăng sĩ ở thời đại Lý Trần, NXB. Tôn giáo, H, 2006, tr. 26. 



****
pdf-icon
****

Nam Mô A Di Đà Phật
Chân thành cảm ơn Hòa Thượng Thích Đồng Bổn đã gởi tặng
Trang Nhà Quảng Đức phiên bản điện tử tập sách này
Nam Mô A Di Đà Phật
Thích Nguyên Tạng
(Melbourne 08/04/2020)
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/03/2013(Xem: 4570)
Nói đến thơ và nền Triết Học lưu xuất từ Tư Tưởng Phật học Tánh Không hay một Triết lý phiêu bồng từ Đông sang Tây của thế tục đế, hầu như đã được tồn đọng trong con người gầy guộc, nhỏ nhắn, dáng dấp phiêu diêu, lãng đãng như sương sớm, mây chiều.
29/03/2013(Xem: 4513)
Những năm tháng dùi mài kinh điển trong các tự viện để thể nhập Phật học huyền vi, u hiển, một thời nào đó đã lầu thông giáo lý cao siêu giải thoát, hướng thân lập mệnh trên con đường giác ngộ, để rồi hôm nay là thành quả hiển nhiên có được tận cùng tâm hồn sâu thẳm mà Thầy đang phô diễn như ý nghĩa cao siêu của Đại Bi Tâm.
29/03/2013(Xem: 4446)
Đây là chủ đề bài thuyết trình của diễn giả Nguyên Siêu, tác giả 650 trang sách trong tác phẩm “Tuệ Sỹ Đạo Sư, Thơ, Và Phương Trời Mộng” tập 1 và tập 2 vừa hoàn thành và được chính thức ra mắt tại hội trường của Hiệp Hội Người Việt tại San Diego, miền Nam California.
29/03/2013(Xem: 10370)
Tôi người Quảng Bình, 1 trong 3 nơi mà Huyền Trân công chúa mới đáng là thành hoàng. Tổ tiên gốc người Hải dương, 4 cha con cùng có mặt trong đạo quân tiếp quản Quảng Bình, rồi định cư ở 3 làng. Thuận Lý là con trưởng, kế đó, Phương Xuân là con thứ 2. Diêm điền, làng tôi, là nơi Tổ của làng tôi cùng con út định cư.Làng tôi cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng bình chỉ có chừng 600 mét đường chim bay.
18/03/2013(Xem: 5186)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 6003)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 6550)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 7849)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 9046)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 14531)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
110,220,567