Thanh Bần (thơ)

25/02/202015:59(Xem: 8660)
Thanh Bần (thơ)
ht thich quang do 3
Thanh Bần
Kính dâng Trưởng lão Hòa thượng Thích Quảng Độ ( 1928-2020 ).
Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất .


Mây trời thanh thảm nhẹ trôi,
An nhiên sóng kiếp, chuyện đời thị phi.
Thanh bần vô uý uy nghi,
Trần tâm dung cõi, gót hài vô tranh.


Khuyến trần trượng thất vang danh,
Khí trường hùng sỹ,  Thanh Minh huyền tài.
Ba đào phong nhượt chẳng phai,
Thụy Mi trán lão, mầy Ngài in pha.

Thái Bình nuôi lớn hằng xa,
Gội gốc Chánh Pháp, niệm Hà ba Minh.
Bái chốn tổ, quyết đăng trình,
Nhập môn hành luật, gối kinh diệp huyền.

Dấu chân Quảng Độ Lên thuyền,
Tích Lan- Ấn Độ, kết duyên pháp hành.
Bhutan- Tây Tạng nguyện thành,
Vượt trùng núi tuyết, niệm hằng thanh cao.

Dẫu thế sự vận suy hào,
Tâm Ngài bất động, Thân trào kim cương.
Dẫu ngục tối có cường rương,
Thân Ngài an trú, trí tường trang nghiêm.

Dẫu sóng ngược, đánh cuồn điên,
QUẢNG hành bờ nhiếp, ĐỘ phiền tiêu ma.
Dẫu sản động kiếp phong ba,
QUẢNG hành tự thị, ĐỘ Tà ma quân.


Trứ danh trước tác uý thân,
Dịch ngàn con chữ, dịch Tầm tuệ tri.
Danh hương Từ Điển hiển bi,
Văn Thơ trứ tác, khắc ghi nhiệm mầu.

Dẫu Ngài vào chốn cung thâu,
Phẩm Thuỳ liên tọa, niệm câu Di Đà.
Nghìn năm mãi nhớ trầm tha,
Cung thầm vọng hạnh, bảo toà Vô cung.




ht thich quang do 4

Trưởng lão Hòa thượng Thích Quảng Độ ( 1928-2020 ).

Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất .

Tổng thư ký Viện Hóa Đạo trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) .

Đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 21 giờ 20 phút ngày 22/2/2020 nhằm ngày 29/1 năm Canh Tý, Phật lịch 2563 tại Chùa Từ Hiếu, Phường 1, Quận 8, TP. Hồ Chí Minh, 

Xuất thế: Mậu Thìn- 1928

Thuận thế vô thường: Canh Tý- 2020

Trụ thế: 93 tuổi

Tăng Lạp: 73 mùa An Cư.

         Trưởng Lão Hòa thượng Thích Quảng Độ từng là giảng sư đại học, một nhà văn, một dịch giả với một kho tác phẩm lớn: 

          Kinh Mục Liên Sám Pháp; 

          Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân; 

          Thoát Vòng Tục Lụy, Sài Gòn 1962 (truyện dịch từ Hán văn của Tinh Vân); 

         Dưới Mái Chùa Hoang, Sài Gòn 1962 (truyện);               

         Truyện Cổ Phật Giáo, Sài Gòn 1964.

          Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận; 

          Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận; 

          Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận; 

         Từ Điển Phật Học Hán Việt (2 tập); 

         Phật Quang Đại Từ Điển (9 tập); 

         Chiến Tranh và Bất Bạo Động; 

         Thơ Trong Tù (tháng 3 năm Đinh Tỵ đến tháng 11 Mậu Ngọ); 

         Thơ Lưu Đày (tháng 2 năm Nhâm Tuất đến tháng 2 năm Nhâm Thân)…

         Năm 1944 Ngài thụ giới Sa di, năm 1947, thụ giới Cụ túc.  

        Năm 1951, Tổng Hội Phật Giáo Bắc Việt do cố Hoà Thượng Thích Tố Liên lãnh đạo cử Ngài đi Tích Lan theo học tại Phật học viện Kelaniya Pirivena.

        Năm 1953 Ngài qua Ấn Độ, theo học tại Đại học Vishva Bharati University, Santiniketan ở Tây Bengal. 

        Trong thời gian du học Ấn Độ, ngài có dịp đi chiêm bái các Phật tích và di tích Phật giáo tại Nepal, Bhutan, Tây tạng…

       Năm 1958, Ngài trở về Sài Gòn, chuyên dạy học và dịch Kinh sách. Biến cố 1963, Ngài tham gia Uỷ Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo trong ban Thông tin Báo chí. 

       Trong chiến dịch Nước lũ đêm 20 tháng 8 năm 1963 Ngài bị bắt cùng chư Tăng Ni, Phật tử trên toàn quốc, đông nhất tại hai thành phố Saigon và Huế.....!

        Nay, chúng con cung kính Bái vọng và ghi nhớ ân cao dầy của Ngài đã cống hiến.

       Chúng con, nhân duyên lành diện kiến Ngài tại Quê Hương Thái Bình-ngày 31-10-2018.

Được ngài chỉ bảo và huấn từ cho chúng con nhiều lời dạy uyên bát, thâm Thuý và trung cang.

Thành kính đảnh lễ Giác Linh Ngài!

Tk: Thích Minh Thế

 Bút danh:Hỷ Tâm Hải Triều.

 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang 

Ngày 22-02-2020.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/06/2011(Xem: 9110)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9138)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18408)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 18010)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9402)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 27265)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 12687)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.
25/05/2011(Xem: 7191)
Đại lão Hòa Thượng Thích Đồng Huy HT. Thích Đồng Huy - Thành viên HĐCM, Ủy viên HĐTSTW GHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trưởng ban Quản trị Đại Tòng Lâm, Viện chủ Tu viện Vạn Hạnh.
05/05/2011(Xem: 7366)
Từ hôm hay tin Thầy lâm bịnh và tiếng nói yếu ớt của Thầy qua điện thoại làm con rất lo. Nhiều năm qua con cố gắng về thăm Thầy một lần nhưng ước vọng đơn sơ ấy đã không toại nguyện. Hơn hai mươi năm con xa Thầy, xa Tu viện, xa đồi núi thương yêu thưở nào. Mai này nếu được về thăm thì thầy đã ra đi biền biệt.
23/04/2011(Xem: 7314)
Thầy đã đọc toàn bộ bài “Tham luận” Nhân trong ngày “Hội thảo” nhớ “Tổ Sư”, Sự nghiệp tu chứng đắc lý chơn như “Ngài Liễu Quán”, sáng gương ngàn thế hệ.