Hành Trình Của Ý

21/12/201908:41(Xem: 7276)
Hành Trình Của Ý

HÀNH TRÌNH CỦA Ý

                                                              

 

Bất cứ ai sinh ra và lớn lên cũng phải cất bước chân đi trong cuộc hành trình miên viễn của dòng đời tương tục. Thế nên, giới thi nhân tự xem mình là những lữ khách dạo chơi trên mọi nẻo đường để rồi tương phùng trong cái thế giới mộng ảo trần ai: “Lang thang từ muôn kiếp, gặp nhau từ thuở luân hồi.”

Huynh đệ tỷ muội chúng tôi ở ba miền (nam, trung và bắc) từ lâu đã: “Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách, Nhật viễn gia hương vạn lí trình” trên dãi đất chữ S nước Việt, duyên đến cũng cùng nhau hội ngộ dưới mái trường Cao cấp Phật học Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh – Khóa II (1988 – 1992) thật là vui mừng biết bao!

Trải qua một chặng đường dài gần 5 năm tu học để “yêu thương và hiểu biết”, ngày mãn trường lại đến. Ai cũng tự nhận biết đây chỉ là một chặng đường kết thúc của một hành trình chưa có điểm kết. Học xong chương trình cử nhân dưới mái trường Vạn Hạnh này, anh em tự nhủ, tùy theo thiện duyên mà mỗi người tiếp tục cuộc hành đi về nẻo ý riêng biệt của mình.

Thế nhưng cuộc đời bao giờ cũng có những giá trị được xuất hiện từ trong sự vận động diệu kỳ vốn có của cuộc sống. Khi cánh cửa này khép lại thì cánh cửa kia mở ra. Trước mắt là một viễn cảnh mới đón chào, trên đầu là bầu trời mênh mông bát ngát, dưới đất là muôn vạn đường lối rẽ cho những bước chân vững chãi của mỗi người.

Thời ấy thông qua mối giao hữu hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ, cùng với uy tín của cố Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu và Hòa thượng Viện phó Thường trực Thích Chơn Thiện Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, các Tăng Ni sinh Khóa II, III, lần lượt được phép xuất ngoại đi về xứ Phật - Ấn Độ du học ở cấp cao hơn như là thạc sĩ, tiến sĩ và hậu tiến sĩ Phật học.

Có lẽ vậy, trong số huynh đệ tỷ muội hồi ấy, có sư Thích nữ Giới Hương Khóa II lên đường du học sang Ấn Độ tu học như bao người khác. Trước đó, Sư cô là người trong lớp ai cũng biết. Đó là mẫu người cần mẫn siêng năng học mọi lúc mọi nơi, tranh thủ cả giờ ra nghỉ để tìm kiếm từng con chữ (sư cô không tham dự các tour di Đạt Lạt hay tour nghỉ do trường tổ chức để có thời gian học 1 lúc hai đại học văn khoa và Phật học).

Như con ong chăm chỉ miệt mài tìm hoa - hút mật – rồi tỏa hương cho đời sau này, sư cô nhiệt tâm tinh cần hoàn thành cử nhân Phật học vào năm 1992, rồi đến cử nhân Văn chương Việt Nam vào 1994. Có một nền tảng khá vững chắc, sư cô tự tin lên đường du học ở xứ Ấn với khát khao mong cầu được tiếp thu tri thức Phật học, thực hành giáo điển của Phật. Đó là sự khởi đầu mới, cho một lộ trình mới trong cuộc hành trình bất tận đến một thế giới tự do – an lạc – giải thoát mà bất cứ ai là đệ tử của Phật cũng phải hy vọng và đợi chờ.

Mười năm sống và trải nghiệm trên đất nước Ấn Độ, xứ sở cội rễ - mạch nguồn Phật giáo, là thời gian không phải dài, cũng không phải ngắn, nhưng thiết nghĩ, có khi nó cực kỳ quan trọng cho một đời người. Chính thời gian này làm cho sư cô “lớn lên và trưởng thành” hơn, để rồi vào năm 2003, sư cô tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học tại Đại học Delhi. Có lẽ đây cũng là thời gian, sư cô hạnh phúc nhất, chỉ chuyên tâm học Phật, tu theo Phật như sở nguyện của mình.

Chưa dừng lại đó, cuộc đời còn có nhiều lối đi và cũng khó biết trước được. Cái duyên đến vùng đất mới để hành đạo sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học. Sư cô định cư tại Hoa Kỳ vào năm 2005. Ở đất khách quê người, từ những ngày đầu tiên, sư cô cũng  tinh cần vượt khó vừa học, vừa thuyết giảng, vừa tu tập để rồi hương hoa quả ngọt cũng trổ đầy. Vào năm 2015, sư cô tốt nghiệp Cử nhân Văn tại Đại học Riverside, California và đang theo học chương trình Cao học Văn tại trường. Xem ra, dù ở phương trời nào, chí nguyện sở cầu của sư cô cứ mãi thắp lên soi sáng con đường Duy tuệ thị nghiệp như là hành trang để cất bước chân vững chãi vào đời.

Có lẽ đây là hạnh nguyện, là đặc trưng con người của sư cô trong hành trình miên viễn hướng tâm về miền đất an lạc đầy hương thơm của Giới bay tỏa, qủa ngọt của Định từ bi và ánh nắng mặt trời Tuệ giác rọi chiếu. Chính vì vậy, nhiều khi ngẫm lại, cuộc hành trình này, đối với sư cô là không có điểm khởi đầu và cũng không có điểm kết thúc.

Mà kết thúc sao được, trong 40 năm xuất gia học đạo cũng là 40 năm nghiên tầm kinh điển, tùy duyên hóa đạo. Năm 2000, sư đã thành lập chùa Hương Sen, Bình Chánh, Sài Gòn (Việt Nam) và năm 2010 - đến nay, sư đã khai sơn thành lập và là trụ trì chùa Hương Sen, thành phố Perris, tiểu bang Cali, Hoa Kỳ. Cho đến giờ này một mình qua lại 2 ngôi chùa, cách nhau nửa vòng trái đất, ấy vậy pháp âm vẫn vang mãi 2 đạo tràng ở 2 hai chùa xa cách nhau. Lý thú hơn nữa, sư cô còn tích cực tham gia giảng dạy tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh nữa. Có lẽ, nhiều khi Phật cũng mỉm cười, Bồ tát thì hoan hỷ, Hộ pháp thường ủng hộ, nên sư cô “tùy duyên vui với đạo” mà làm Phật sự không dừng nghỉ.

Bao nhiêu công đức, bấy nhiêu thành quả của sư cô đều được hóa hiện trong tủ sách Bảo Anh Lạc, trong đó có 40 công trình nghiên cứu về văn hóa, văn học, Phật học, âm nhạc Phật giáo đã được xuất bản và tái bản nhiều lần bằng Anh ngữ và Việt ngữ đến tay bạn đọc. Thời gian 40 năm trong dòng sống sinh tử này quả là quý báu, quý báu hơn lại có 40 tác phẩm chào đời, thật ấn tượng biết bao.

Có lẽ đây là lý do vì sao mọi người sống trong đạo, yêu mến đạo, trên hết là những đệ tử, học trò của sư cô, quý mến sư cô muốn thỉnh cầu sư cô thực thi ấn phẩm thứ 41 ra mắt độc giả gần xa với nhan đề: Tuyển tập 40 Năm tu học và Hoằng pháp của Ni sư Giới Hương, như kết thúc một chặn đường trong cuộc hành trình bất tận của người học Phật và tu theo Phật.

Bất chợt tôi nhớ như in lời dạy của thiền sư Nhất Hạnh:

“Chẳng biết rong chơi miền Tịnh độ,

Làm người một kiếp cũng không xong”

 

 

 

 

                                                      Học Viện Phật Giáo Việt Nam, ngày 18/11/2019

                                                                                                                                                                                                            TK. Thích Phước Đạt

      ([email protected])

-Phó Viện Trưởng VNCPHVN, TPHCM kiêm

Giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Học PGVN

-Phó Viện Trưởng HVPGVN, TPHCM

                                                             Kiêm Trưởng Khoa Phật Giáo Việt Nam

                       -Ủy Viên Ban Chấp Hành Hội Nghiên Cứu Văn Học VN tại TpHCM

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/08/2013(Xem: 19341)
Thiền tông truyền sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI, do Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma). Đến thế kỷ thứ VII, Thiền tông truyền sang Việt Nam, do Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci). Thế là, Thiền tông có mặt ở Việt Nam sau Trung Hoa một thế kỷ. Đến thế kỷ thứ XII, Thiền tông mới truyền vào Nhật Bản. So Việt Nam với Nhật Bản, Thiền tông truyền bá ở Việt Nam trước Nhật Bản đến năm thế kỷ. Song ở Trung Hoa, Nhật Bản về sử liệu Thiền tông rất dồi dào, còn ở Việt Nam thật là nghèo nàn đáo để. Sự nghèo nàn ấy, không phải Thiền tông Việt Nam truyền bá kém cỏi hơn các nước Phật giáo bạn. Bởi vì nhìn theo dòng lịch sử, từ thế kỷ thứ VII cho đến thế kỷ thứ XIV, chúng ta thấy Thiền tông đã nắm trọn vẹn tinh thần truyền bá Phật giáo và cả văn hóa dân tộc Việt Nam. Những sách vở của người Việt Nam sáng tác hoặc ghi chép lại, không kém gì các nước Phật giáo bạn. Nào là Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, Liệt Tổ Truyện, Nam Minh Thiền Lục, Thánh Đăng Thực Lục, Liệt Tổ Yếu Ngữ, Kế Đăng Lục, Tam Tổ T
22/08/2013(Xem: 9502)
Tin buồn do HT Như Điển gởi đi từ Phần Lan vào chiều ngày 8-8-2013, đã làm bàng hoàng và xúc động đối với Tăng Ni và Phật tử gần xa. Ôn đã ra đi trong lúc Phật sự còn ngổn ngang, bỏ lại phía sau mình niềm tiếc nhớ kính thương khôn nguôi của tất cả mọi người.
18/08/2013(Xem: 9102)
Hồi nhỏ ba tôi đưa tôi lên qui y với Hoà thượng Đôn Hậu tại chùa Thiên Mụ (1956), nhưng sau lớn lên học Đại học, vào Đoàn Sinh viên Phật tử (1963), tôi lại tham gia "tranh đấu Phật giáo" tại chùa Từ Đàm (1963-1966). Hoà thượng Thích Thiện Siêu là một trong những vị lãnh đạo của tôi lúc ấy.
17/08/2013(Xem: 13910)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
16/08/2013(Xem: 11259)
Tôi không có duyên may thân cận Sư. Chỉ qua những phật sự chung của giáo hội, được diện kiến Sư trong các buổi họp, hoặc đại hội. Cảm nhận sự hiện diện của Sư nơi đám đông, là người lặng lẽ nhất trong những người lặng lẽ. Ngồi nơi ghế cao mà thu mình lại như chưa hề ngồi đó. Đôi lần phát biểu thì ngôn ngữ cô đọng, kiệm lời, như chưa hề lên tiếng.
16/08/2013(Xem: 14778)
Thượng Tọa thế danh Ngô Đình Thung, pháp danh Trừng Lộc, pháp tự Chơn Kiến, pháp hiệu Ấn Minh. Sinh ngày 20 tháng 06 năm 1948 (Mậu Tý) ) tại làng Đại Điền Đông, xã Diên Điền, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Thân phụ, ông Ngô Ký, pháp danh Trừng Phong, thân mẫu, bà Huỳnh Thị Khằng, pháp danh Trừng Tằng, song thân của Ngài đều đã mãn phần.
16/08/2013(Xem: 12554)
Chốn Tòng Lâm Phật Giáo VN vừa chứng kiến cảnh trạng bi thiết vì một cội tùng cửu thập tuế đã ngã bóng về Tây : Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN, nhập niết bàn !
14/08/2013(Xem: 11592)
Sau khi đọc lại hai bức thư của Ôn gởi cho con, một đề ngày 9/6/1994, viết trên một mảnh giấy học trò, ngang 10cm, dài 15cm. Và một với đầu đề: PL. 2547. Nha Trang, ngày 19/11 Giáp Thân, viết trên hai mặt của một tờ giấy học trò, được cắt xén vuông vức, trong đó có đoạn: “… nhận được cuốn Từng Giọt Nắng Hồng cách nay bốn ngày. Tôi đọc 12 tiếng đồng hồ mỗi ngày, vừa xong lúc 12 giờ trưa hôm nay. Tôi quyết định in nó để cúng dường Ôn Trí Thủ.”
14/08/2013(Xem: 10853)
Những ai đã được Ôn Già Lam dưỡng dục tại ba Phật Học Viên: Báo Quốc Huế, Hải Đức Nha Trang, và Quảng Hương Già Lam Sài Gòn thì khó mà bộc bạch hết tâm tư tình cảm của mình về ân đức sâu dày của Người.
14/08/2013(Xem: 11359)
Năm 1973, một buổi sáng đẹp trời, khoảng 9 giờ, anh em đi học hết, tôi và anh Bình, tức Giải Đàm, ở nhà hè nhau cưa một gốc mít khô đứng lù lù trước mé hàng rào chùa Già Lam. Gốc mít thì bự, cái cưa thì dài, lại yếu và lụt, nên hai chàng lực sĩ “lỗ cốt” hì hà hì hục cả giờ mà chỉ cưa được giáp vòng gốc cây với độ sâu một lưỡi cưa.