Một áng hương vân

10/11/201920:41(Xem: 7633)
Một áng hương vân



HT Minh Chau2
Một áng Hương Vân

Kính dâng Ôn Minh Châu



Nhẹ nhàng như những áng mây trôi lơ lững và bay khắp thế giới, đến và đi không vướng bận tơ hào…Nhân ảnh Ôn đã đến và ngự trị trong lòng con như thế đó ! Nhưng không phải là một áng mây trắng bồng bềnh và vô định, mà Ôn là một áng Hương Vân thơm lừng tỏa ngát....hiền hòa và bình dị đối với một môn hạ nhỏ bé như con.

Hôm nay áng Hương vân không phải như thần tượng.. mà thân thiết,quý kính trong hồn con đã thật sự bay xa rồi sao?? Câu hỏi để như còn bao tiếc quý chưa trọn vẹn của một môn sinh suốt đời ngưỡng vọng về Ôn của chúng con.

Hơn 20 năm rồi những tháng ngày an lạc và hạnh phúc trong con vẫn tồn tại một cách tha thiết, vì Ôn chính là bậc Thầy sáng, là đấng cha hiền, và là từ mẫu thân thương của những học Tăng chúng con thôi! Giờ đây những ấn tượng, những kỷ niệm may mắn trong đời được cùng huynh đệ thân cận bên cạnh Ôn sẽ vĩnh viễn tồn tại trong đời tu học của chúng con.Những đêm thức thâu đêm để học thi nhưng vì Thanh niên Tăng còn nhiều nhiệt huyết ham mê thể thao, Ôn cũng cho phép và gần gũi thức khuya cùng học trò để nhắc nhở giờ giấc, dáng Ôn cười hiền hòa như một người Cha và lời nói nhỏ nhẹ ngọt ngào như một người Mẹ, rồi lại bận rộn lo thức ăn khuya cho chúng con và chia xẻ niềm hân hoan của con trẻ, Ôi ! chúng con tìm đâu được một thiên thần bảo hộ nào cao quý hơn nữa, nên cứ thế mà chúng con lớn lên suốt 4 năm dài trân quý đó thưa Ôn. Cá nhân con…ngay cả khi con còn cặp sách đến trường Cao Cấp Phật Học, Ôn cũng đã nhìn thấy và tạo cơ duyên cho phép con có dịp tài bồi kiếc thức và kinh nghiệm trong môi trường hoằng pháp của những tuần giảng Kinh cho Phật tử tại gia tại Tu viện Vạn Hạnh. Chính nhờ những đôi tay dắt dìu con trẻ của Ôn kính yêu mà con có được một sự nghiệp nho nhỏ hôm nay..


Ôn Kính yêu ơi ! Tiếng gọi thân thương nầy nhắc cho con vài kỷ niệm nhỏ được hầu cận cạnh Ôn: Vào năm 1990 con có may mắn được lái xe hầu Ôn đi Đà lạt cùng với GS Minh Chi, con rất hồi hộp và thận trọng vì có trách nhiệm đưa đón những bậc tôn túc lớn trong Giáo Hội, thế nhưng khi ngồi vào tay lái thì mọi thứ đều tan biến.. Ôn như một vị Thánh, trang nghiêm hiền hòa và thanh tịnh. Màu y tươi sáng hòa hợp với màu da và đôi mắt trầm tư sâu xa của Ôn làm cả một không gian nhỏ bé trên chiếc xe an bình và ổn định. Sáu giờ chạy xe mà con không nhớ đến thời gian, lâu lâu lắng tai nghe tiếng Ôn nhẹ nhàng hiền dịu trao dổi với GS Minh Chi, con thấy mình như được nương vào áng mây từ vân vượt qua những đoạn đường khúc khủy của núi rừng, đèo dốc Đàlạt và cũng nương vào áng Hương Vân nầy mà con vươt qua được những nẻo đường đời khúc khủy, xuôi ngược cho mãi đến hôm nay. Con nhớ mãi trên chuyến trỏ về, khi đến TV Vạn Hạnh Ôn xuống xe rồi mĩm cười (nụ cười ngàn thuở khó quên).. Ôn và GS Minh Chi đồng khen : “Thầy Minh Hiếu nhanh nhẹn, sáng trí nhưng khi lái xe thật ổn định và an toàn, chính xác giờ giấc.. đã cho Ôn có những giờ phút nghỉ ngơi bình an trên xe, cám ơn Thầy nhiều lắm..”


Thưa Ôn, con không hạnh phúc vì lời khen và đã làm tròn bổn phận.. nhưng cảm xúc đong đầy trong trái tim khi nghĩ đến lời dạy của Ôn. Một bậc Thầy cao quý mà bình dị..vì chúng sanh, vì sự nghiệp của Phật pháp, của Giáo Hội, tuổi hạc chất chồng, ngay cả đến giờ nghỉ ngơi cũng không có thời gian, tranh thủ Phật sự mà tạm nghỉ ngơi trên một chuyến xe ngắn… rồi lại khen và cám ơn một người học trò lái xe.. Ôn là vậy đó !! còn chúng con, những môn hạ dưới sự dạy dỗ của Ôn lại có quá nhiều thời giờ để ngủ nghỉ và rong chơi trong chốn ta bà cát bụi nầy. Bài học Nhân ảnh và lời giáo dục sâu xa của ôn đã nhắc nhỡ con rằng nhanh nhẹn mà không khéo cũng sẽ nguy hiểm và mất đi sự an lành. Lời khen ngợi, dạy dỗ ấy đã giúp cho con trưởng thành và có nhiều thay đổi trong Đạo nghiệp của mình.

Ôn là áng Hương Vân nhẹ nhàng không giai cấp, không màu sắc, đến đi tự tại..ngay cả khi dạy môn sinh sai phạm cũng sợ làm thương tổn dến tâm tư của chúng con…thì làm sao chúng con còn lời nào để xưng tán, vì mọi lời tán dương cao quý cũng không nói hết được tấm lòng của chúng con…và ở nơi đây hay mười phương cao vời Ôn lại một lần nữa mĩm cười thương yêu và tha thứ những đứa con vụng dại, những môn Hạ ngô nghê như con..khi niệm tưởng những dòng chữ nầy Kính lạy Giác linh Ôn nơi khung trời Nam Bán cầu xa xăm nầy, không được về thủ tang Ôn lần cuối Thành kính ngưỡng vọng Giác Linh Ôn với muôn vàn lần thống hối..kính quý .



Đệ tử Môn Hạ thành kính Khấp bái, 

Đại diện Tăng đoàn Khất sĩ Úc châu 

TK Thích Minh Hiếu 

(Cựu học tăng Vạn Hạnh, khóa 2)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/06/2012(Xem: 25283)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8604)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9871)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18303)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 18050)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 11161)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 25179)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9068)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12403)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9235)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1