Đôi lời cảm niệm

12/07/201817:27(Xem: 8757)
Đôi lời cảm niệm

Duc Phat Di Da
Đôi lời cảm niệm

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Kính bạch HT Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo,

Kính bạch Chư tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni,

Kính bạch Sư Cô Giác Anh,

Kính thưa Chị Diệu Vinh và các cháu thân mến,

Kính thưa Ban Hộ Niệm các chùa,

Kính thưa quý quan khách,

 

Hôm nay tại nghĩa trang Leppington này, không khí nơi đây dường như không khác nơi đạo tràng thanh tịnh, để tiễn biệt và chúc nguyện Chơn linh của một người đặc biệt, một bậc chơn nhơn vừa thuận thế vô thường, xả báo thân một cách nhẹ nhàng tự tại để về cõi Liên hoa Thượng Phẩm.

Ông Quảng Hạo vì hoàn cảnh và nghiệp duyên, đã xa Tăng đoàn khi đất nước Việt Nam nhiều binh biến; dấn thân vào cảnh đời cao thấp hơn thua của thế gian, nhưng tư cách tác phong của một người con Phật thuần thành vẫn vững vàng kiên định.

Bao nhiêu hoài bão và chí nguyện cao rộng đã lỡ dở của một thời làm tu sĩ, nhưng bù lại cho ông, đã hữu duyên có được một chủng tử đồng chơn nhập đạo là Sư Cô Giác Anh, với những hạnh đức tốt đẹp và đáng mến yêu. Chắc ông đã mãn nguyện nhiều với Sư Cô tài đức, chị Diệu Vinh đảm đang đầy đạo tâm và hai cô con gái Huệ Phúc, Huệ Đức tài giỏi, dễ thương và cháu Khoa dễ mến.

Không có gì sánh được công đức của ông Quảng Hạo đã tận tụy, lặn lội dù đang có bệnh duyên, vất vả từ miền Bắc Việt Nam xa xôi về tận Trung kỳ, nhiều gian nan khó nhọc để kiếm tìm tảng đá quý giá, điêu khắc nên hình tượng Đức Bổn Sư. Và Ngài đã hiện diện nơi Thiền Lâm Pháp Bảo, thành phố Sydney, Úc Đại Lợi.

Nhớ lại nhiều năm trước, khi Tâm Huệ cùng Sư cô Giác Duyên thừa lệnh Hòa Thượng, chư Tăng Ni và các Phật tử chùa Pháp Bảo về Việt Nam ba lần để cứu giúp phần nào những đồng bào nghèo khổ bất hạnh ở những vùng biên địa xa xôi theo khả năng có được của đạo tràng, Sư Cô và Tâm Huệ đều được Ông Quảng Hạo và Bà Diệu Vinh ân cần mời đón về nhà một cách hoan hỷ cởi mở. Chúng con/ chúng tôi còn nhớ, không lúc nào mà Ông không chia sẻ đọc ngâm những vần thơ đạo của Ông sáng tác cho nghe.

Sau chuyến đi từ thiện về, Ông đã tặng cho Sư Cô và Tâm Huệ bài thơ “Hoa Tâm” thật tuyệt vời.

Người đi gieo hạt tình thương

Lắng nghe tiếng khóc thê lương kiếp người

Trải lòng ra chia nụ cười

Mắt thương tỏa sáng hơn mười dặm xa

Thân sơ chung một mái nhà

Bốn phương huynh đệ gần xa tình người

Khơi dòng cho đất thêm tươi

Bóng râm tỏa mát che người với ta

Hoa tâm nở khắp Ta bà

Từ Bi réo gọi đưa ta lên đường”.

(Thơ, Quảng Từ Vân, Gởi Hương Cho Đất, trang 43).

 
quang_tu_van2

Đối với quý Thầy và quý đạo hữu, Ông đều sáng tác những bài thơ đầy ý nghĩa, đầy tình cảm đậm đà. Mỗi khi đi du ngoạn, Ông đều có những vần thơ tràn đầy ý đạo.

Tình cảm của Ông đậm đà sâu lắng, văn thơ của Ông chan chứa lời thiền. Ý thơ vô cùng thanh tịnh và đầy nghĩa thơ! Tâm tưởng của Ông ẩn chứa đạo tình thâm thúy. Sự kính ngưỡng Tam Bảo của Ông thật vẹn toàn.

Ông đã cảm xúc khi Phật Ngọc Hòa Bình đã về nơi đất nước quê hương: “Phật về mở cửa vô minh, khơi dòng suối mát nối tình chúng sanh… Phật về vui cả địa cầu, Đông Tây gần lại tình người bao la..”  Tấm lòng của Ông thật là thiện lành, chan rải… lời thơ đầy hương đạo! Cho nên bài thơ nào của Ông cũng khiến người nhạc sĩ viết nên ý nhạc. Ông đã có hỏi: “Phật hỏi con sao lâu về thế?” Thì nay người con ngoan đã trở về với Đấng Cha Lành và đã buông bỏ:

Bồng bềnh mấy kiếp tử sinh

Trần lao phủ kín không nhìn thấy ta

Khoan thai sáu chữ Di Đà

Cửa không nhẹ bước kìa là sen xanh”

Chúng tôi sẽ mãi nhớ đến Ông, mãi mãi thương quý Ông và sẽ luôn luôn chia sẻ với chị Diệu Vinh, với các cháu và với Sư Cô Giác Anh để nỗi đau buồn mất mát vô cùng kia sẽ trở thành sự thành tâm hoan hỷ trước sự buông bỏ nhẹ nhàng, thanh thản vi diệu của một bậc chơn nhơn đáng quý, đáng kính!

Xin thành tâm cảm ơn Ông Quảng Hạo về những cống hiến, về những hạnh đức cao quý của Ông mà chúng tôi xin học hỏi tán thán. Xin vô cùng hoan hỷ với những làn hương chiên đàn mà thi sĩ Quảng Từ Vân đã hoan hỷ Gởi Hương Cho Đất.

Kính nguyện cầu Chơn linh Ông Quảng Hạo sớm hội nhập Ta Bà, hoàn nguyện bản hạnh bản hoài “Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi” để hóa độ chúng sanh.

 

Nam Mô A Di Đà Phật.

PT Tâm Huệ

Đạo tràng Pháp Bảo, Sydney

27/6/2018

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/10/2010(Xem: 10531)
Chân Nguyên chủ trương then chốt của việc đạt được giác ngộ là thắp sáng liên tục ý thức của mình về sự hiện hữu của tự tính “trạm viên” đó là nguồn gốc chân thật của mình.
11/10/2010(Xem: 8590)
Thượng tọa Thích Thông Huệ, thế danh Bùi Hữu Hòa, sinh năm Tân Sửu (1961) tại Phan Rang - Ninh Thuận. Năm 20 tuổi (Canh Thân - 1980) xuất gia với Hòa thượng Thích Đỗng Hải, trụ trì Tổ đình Sắc tứ Thiền lâm tự - Phan Rang, Ninh Thuận. Năm 1982 Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Thượng tọa đã đãnh lễ Hòa thượng Thích Đỗng Minh, cũng là vị Sư Bá trong tông môn, để được làm đệ tử Y chỉ sư.
04/10/2010(Xem: 10031)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi. Sinh chính quán của tôi là làng Diêm Điền, thuộc khu vực phía tây sông Nhật Lệ, nằm phía Bắc con đường cái quan nối liền cổng Quảng Bình, trung tâm thành phố Đồng Hới, đến tận của Vũ Thắng, ven chân dãy núi Hoành Sơn.
03/10/2010(Xem: 8195)
Đức Phật dạy: Ai muốn tin Ta, làm đệ tử Ta, cần phải đủ trí quán sát, mới tin; không rõ nguyên nhân Ta, mà tin Ta ấy là phỉ báng Ta. Ý câu này, Ngài bảo đệ tử của Ngài, ai muốn tu, muốn hành theo hạnh Ngài thì phải rõ các hành vi của ngài. Nghĩa là: xét rõ nguyên nhân của Ngài, sẽ tin và làm theo, chớ đừng làm càn, tin bướng thì khác nào không phải lương y mà giả xưng là lương y, cách đó rất tai hại. Chúng ta nên biết: "Bồ Tát thị hiện phàm phu, chính phàm phú đó là hóa thân Bồ tát; còn phàm phu giả xưng Bồ tát thì Bồ tát ấy là Bồ tát của phàm phu". Nếu đem tâm phàm phu đó hành xử thì chỉ chuốc lấy phiền não khổ đau.
03/10/2010(Xem: 12778)
HT Minh Tâm (Khinh Anh) , 50 năm một đời người - Một đời đạo Pháp - phần 1 - Ngày Vía Quan Âm sắp đến.. 19 tháng 2 năm Giáp Ngọ . Chùa Phật Ân Tổ chức lễ Hoàn Nguyện , sau hai năm trùng kiến Ngôi Chánh Điện lần cuối và một số hạng mục khác. Vì nhân duyên đó , xin giới thiệu đến với quý thiện nam tín nữ , Phật tử gần xa , các Bậc Thiện Tri Thức . Một chuỗi hình ảnh của thầy Minh Tâm đã chuyển thể qua video , từ năm 1963 - 2014 . với nhan đề : THẦY MINH TÂM , 50 NĂM MỘT ĐỜI NGƯỜI - MỘT ĐỜI VÌ ĐẠO PHÁP . Trong quá trình sưu tầm , dàn dựng . Sai sót là điều khó tránh khỏi , kính mong quý vị hoan hỷ . NAM MÔ HOANG HỶ TẠNG BỒ TÁT .
29/09/2010(Xem: 13500)
Tác-phẩm của Trần-Thái-Tông còn lưu truyền đến nay chỉ gồm có Bộ-Khóa-Hư-Lục và hai bài thơ sót lại của quyển Trần-Thái-Tông ngự-tập đã thất-lạc.
28/09/2010(Xem: 10866)
Hòa Thượng THÍCH QUẢNG TÂM (1947 - 2010), húy Như Hảo, thế danh Lê Tấn Quang, sinh ngày 12 tháng 8 năm Đinh Hợi (1947) tại làng Thạch Trụ huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình nhiều đời thâm tín Tam Bảo và có truyền thống xuất gia tu học.
23/09/2010(Xem: 8600)
Hòa Thượng Thích Phước Huệ sanh năm 1922, tại ấp Mỹ Thủy, xã Thạnh Mỹ Lợi, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoạch, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ngọc.
19/09/2010(Xem: 10761)
Ngay từ hồi nhỏ tâm hồn tôi đã hướng về đạo Phật. Tôi it nói, sống trong trầm lặng, ham đọc sách, nhất là những sách về đạo Phật viết cho trẻ em. Tôi chỉ có vài đứa bạn cũng giống tính tôi, gặp nhau thì vào buồng thủ thỉ thù thì nói chuyện với nhau. Cha tôi buôn bán lớn, giao thiệp nhiều, và cũng như phần đông các nhà kinh doanh hồi đó, đều quen biết các vị sư và đóng góp nhiều cho chùa chiền. Khi các thầy đến thăm cha tôi, lúc nào tôi cũng đứng gần nghe ngóng say sưa và dâng trà cho các thầy.
04/09/2010(Xem: 9027)
"Cây héo vào xuân hoa nỡ rộ Gió đưa nghìn dặm nức hương thần." Thiền Uyển Tập Anh ( Anh Tú Vườn Thiền) ghi về sư như sau: " Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090) thuộc thế hệ thứ bảy dòng Vô Ngôn Thông.Thiền Sư họ Mai, tên Trực người huyện Long Đàm châu Phúc Điền, là con người anh thái hậu Linh Cảm đời Lý. Thuở nhỏ ông thông minh mẫn tuệ, hiếu học. Nghe tiếng trưỡng lão ở chùa Mật Nghiêm giỏi xem tướng, ông bèn đến nhờ xem hộ.