Những ngày bên Thầy Giáo Thọ

20/03/201817:37(Xem: 11833)
Những ngày bên Thầy Giáo Thọ


Ni Su Nhu Thuy 3
NHỮNG NGÀY BÊN THẦY GIÁO THỌ



NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Kính lạy Giác Linh Ni Trưởng Như Thủy

 

Cách xa vạn dặm phương trời

Ngày Mùng Một không trăng u tịch

Nghe tin người nhẹ gót về Tây

Chúng con nghe nơi cõi lòng nặng trĩu

Như ngây như dại, như thể đánh mất một cái gì đó quý giá trong đời khó mà tả được.Thời gian mấy ngày qua hàng triệu người ngay cả trong và ngoài nước đều cảm nhận được nỗi đau thương tang tóc từ một sự ra đi. Sự ra đi của Ni Trưởng đã làm tan nát bao trái tim. Người ra đi để lại không ít nỗi đau buồn, bởi đó là một sự mất mát lớn cho hàng Ni Giới chị em chúng con nói riêng và toàn thể hàng tín đồ Phật tử nói chung. Vẫn hiểu thân này rồi phải trải qua 4 tướng Sanh- Già- Bệnh-Chết, nhưng sao chúng con nghe tim mình trĩu nặng thế này!

  Còn đâu nữa khi Hạ về, còn đâu nữa những buổi học mà Người đã hoá thân trong nhiều vai trò để giúp đỡ chị em chúng con, mỗi lần bên cạnh Người chúng con như được tắm gội sạch sẽ cả tâm hồn và thể xác. Khi hay tin Người nhập viện, chị em chúng con không ngừng cầu nguyện cho Người từng ngày với niềm tin và hy vọng là Người sẽ trở về bên chúng con. Chị em chúng con ai cũng có trách nhiệm tại Bổn Tự, nhưng đều đã có dự định là chúng con sẽ bay đến bên Người, và Người cũng đã hứa ngày 18 tháng 03 sẽ họp mặt với chúng con tại San Diego.

  Thế mà định luật vô thường quá khắc nghiệt đã không cho phép Thầy trò chúng ta có dịp hội ngộ lần cuối, chúng con không chuẩn bị  được gì cả.  Người biết không! Sư Chị Tiến Liên và chúng con khi hay tin Người đột ngột ra đi là lúc chúng con đang vào khóa Lễ, chị ấy lúng túng quên trước quên sau rất là tội nghiệp. Giờ thì chúng con đã vĩnh viễn xa Người và xa mãi mãi, nhưng dư âm lời dạy dỗ của Người ngày nào luôn đọng mãi trong tâm hồn chị em chúng con.

Nói đến phong cách và sự nghiệp nổi bật một đời hong dương Đạo Pháp của Người, chúng con luôn nhớ tới phong cách chất phát mộc mạc giản dị, và một giai đoạn với hạnh nguyện độc cư của Người và những tác phẩm với chất liệu giáo dục đậm nét văn hoá Phật Giáo. Những công trình giáo dục Người đã một đời đóng góp cống hiến cho ngôi nhà Phật Pháp mãi mãi  đọng lại trong tâm hồn mọi người .

Kính lạy Giác Linh Ni Trưởng, chúng con quá đau lòng khi được Sư Như Bảo đưa tin từng giờ cho chị em chúng con, Sư Bảo nói: “Sư đau  lắm nhưng Sư vẫn nói pháp nhắc nhở chị em chúng ta”. Sư ơi chúng con nghe cõi lòng tan nát từng khoảnh khắc trong tuyệt vọng, mặc dù chúng con đã cố gắng để ngồi yên trong tĩnh lặng như lời người dạy, nhưng khi đứng trước tình cảnh đau đớn này chúng con vẫn tả tơi như những chiếc lá mong manh lìa cành trong phong ba bão táp.

Chúng con hiểu rằng tất cả đều là những du khách đi qua trần gian này ..một chuyến đi mất hết mấy mươi năm. Mỗi người đều có cảm nhận riêng cho chuyến đi của mình. Rồi chúng con bắt đầu cho những chuyến đi mới,   hành trình mới ….. và mong đợi những gì, để chúng con làm cho đời mình một chuyến vân du mới trở nên đầy ý nghĩa.

Vẫn biết là ai cũng phải từ giã chốn này, hiểu rằng sự ra đi là một khởi đầu mới là một cơ hội mới để hưởng được những thành quả trong bánh xe nghiệp vẫn không ngừng quay. Chúng con vẫn biết bây giờ không phải lúc  chúng con sợ hãi và lo lắng, sầu bi khổ não, mà  chúng con phải nhận chân được rằng mình có cơ hội  quí giá để chuẩn bị cho ngày trọng đại  này và chuyển hóa tâm thức mình đúng hướng cho bây giờ và mãi mãi về sau, cho chính chúng con và cho tất cả mọi người.

Kính lạy Giác Linh Ni Trưởng, Cali quá u buồn! Chờ đợi đón Người về, nhưng sẽ là một cổ quan tài lạnh giá, chứkhông phải là một vòng tay ấm áp, một nụ cười hiền bao dung và độ lượng hôm nào. Nhớ từng giọng nói  từ ái của Người, từng cử chỉ của Người nhắc nhở hay hỏi thăm Phật sự của chị em chúng con.

Riêng con còn nhớ năm ấy với trái tim còn nhiều non nớt, ba huynh đệ: Sư chị Tịnh Huy ,Tịnh Hân và Tâm Vân chúng con khăn gói lên đường tiến thẳng về Thiền Viện Viên Chiếu, thập niên 80, Người là Giáo thọ cũng là Tổng Giám Viện. Chúng con ở lại Thiền Viện Viên Chiếu một tháng và quyết định trở thành thiền sinh, nhưng riêng con đã bị Sư Ông Thanh  Từ  và Người từ chối, còn nhớ sáng hôm ấy mặc dù không được trở thành thiền sinh, nhưng con đã nhậnđược một món quà tinh thần khá đặc biệt, đó là một pháp thoại ngắn từ Sư Ông và Người đã dành cho con, cũng đủ cho con trở về Sài Gòn với tâm trạng hân hoan để làm hành trang cho đến ngày nay. Thế rồi đến năm 2015 con có duyên gặp lại Người và còn ở chung một tòa nhà với người tại Tịnh Uyển Đức Viên. Con thỏ thẻ hỏi người tại sao năm ấy từ chối con. Người cười và nói: “Không phải bây giờ Tâm Vân đã có tất cả câu trả lời rồi đó sao”  cả hai Thầy trò mỉm cười trong im lặng, khung cảnh cô tịch êm ả của núi rừng lúc ấy cũng chìm sâu, hòa quyện với tâm trạng của chúng tôi ….Dường như năm ấy Người đã  thấy rõ vận mệnh của đời con. Và Người cũng luôn nắm rõ vận mệnh của chính bản thân  mình trong lòng bàn tay,  thế là Người đã âm thầm từng bước đi qua trần thế này một cách tự tại và hiên ngang,mặc cho thế sự vui buồn…

Chúng con xin chắp tay cầu nguyện cho Người vẫn thong dong tự tại yên nghỉ trong cảnh giới của chư Phật.

Kính bái lạy Giác Linh Ni Trưởng .

Học Ni Tâm Vân.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/06/2011(Xem: 9884)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.
22/06/2011(Xem: 13103)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 8221)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9502)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9503)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 19061)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 19484)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9890)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 28879)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 13556)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.