Chuyến Đò Bến Giác.

28/01/201807:27(Xem: 7881)
Chuyến Đò Bến Giác.
Ni Truong Thich Nu Dieu Ly


Chuyến Đò Bến Giác.

Thành kính tưởng niệm:
Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Lý.
- Chứng minh Phân Ban Ni giới Trung ương
- Chứng minh Phân Ban Ni giới thành phố Đà Nẵng
- Nguyên Ủy viên thường trực Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng
- Nguyên Trưởng Phân Ban Ni giới thành phố Đà Nẵng
- Tọa chủ Chùa Quang Minh, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, tp. Đà Nẵng.
Do niên cao lạp trưởng, Ni trưởng đã thâu thần viên tịch vào lúc 11 giờ 05 phút ngày 23 tháng 01 năm 2018 (nhằm ngày mồng 07 tháng 12 năm Đinh Dậu) tại Chùa Quang Minh, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẳng.
Trụ thế: 97 năm, Hạ lạp: 72 năm.
(1922- 2018)
 
Chân tu phạm hạnh trang nghiêm,
An nhàn tự thị, điềm nhiên thanh bần.
Bậc tài Ni chúng xuất trần,
Tinh chuyên học pháp, phạm âm thông lầu.
Từ quê Xứ Quảng in sâu,
Nuôi tâm dưỡng trí, pháp mầu khai hoa.
Vuông tròn hạt Ngọc trong ta,
Tìm ra tánh Phật, thoát xa dục tình.
Pháp hành dung tướng uy linh,
Đệ Tam Tăng Thống, thuyết kinh âm hùng.
Dõi theo lối củ nghìn trùng,
Cố Đô Bái kiến, ngộ từng nhân duyên.
 Linh Mụ dứt mái tóc phiền,
Tham sầu khổ ái, bao niềm hư vô.
Giữa niềm Núi Ngự nhấp nhô,
Sông Hương uống khúc, chuông mơ tỉnh cầu.
Chốn Diệu Đức nguyện vung trồng,
Tam kinh luật luận, dệt tầm thiền gia.
Tánh không hiển lộ ta bà,
Tinh chuyên hầu Phật, thiên hà duyên sinh.
Quang Minh khai kiến uy linh,
Thất chúng hạnh ngộ, lời kinh vọng truyền.
Thong dong giữa cảnh an nhiên,
Phật Đài kiến tạo, chu viên Đà Thành.
Bao hàng thụ giáo âm thanh,
Đàm Đầu Ni Trưởng, viên thành giới Tâm.
Chín Mươi lẻ bẩy vững Âm,
Hồng danh trì niệm, nghiêm tầm công phu.
Một đời rong bước chân tu,
Một đời khiêm kính, nhã từ chiếu soi.
Chuyến đò bến giác trần ai,
Sư Bà nhẹ gót, liên đài Tây Phương.
Nụ cười thanh thoát lên đường, 
Bao hàng Thất chúng, tâm hương trở tìm.
Ngôi hàng chín phẩm như in,
Hạnh duyên Bái kính, nhân sinh tương Phùng.

Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tam Thế, Tây Thiên-Linh Mụ Pháp Phái,
trú trì Quang Minh tự, huý thượng Tâm hạ Dung, tự Diệu Lý, Ni Trưởng thùy từ chứng giám.   
Đệ tử: Tỳ kheo Thích Minh Thế
Hỷ Tâm Hải Triều
Ngày 27-1-2018- nhằm ngày 11-12- Đinh Dậu.
Thọ âm Trưởng Lão Ni Trưởng Thượng Diệu Hạ Lý trong giai đoạn 1989-1998.
Sinh thời, Sư bà đã chỉ dạy cho bài sám Quy Mạng, sám Phổ Hiền, đồng thời khuyến tấn việc tu học sau này.
Nay chúng con vọng bái giác linh đài, về Quang Minh Tự, thắp nén nhang trầm lên giác linh ân sư.

 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/06/2011(Xem: 7859)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9146)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9178)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18464)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 18393)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9439)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 27451)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 12728)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.
25/05/2011(Xem: 7207)
Đại lão Hòa Thượng Thích Đồng Huy HT. Thích Đồng Huy - Thành viên HĐCM, Ủy viên HĐTSTW GHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trưởng ban Quản trị Đại Tòng Lâm, Viện chủ Tu viện Vạn Hạnh.
05/05/2011(Xem: 7427)
Từ hôm hay tin Thầy lâm bịnh và tiếng nói yếu ớt của Thầy qua điện thoại làm con rất lo. Nhiều năm qua con cố gắng về thăm Thầy một lần nhưng ước vọng đơn sơ ấy đã không toại nguyện. Hơn hai mươi năm con xa Thầy, xa Tu viện, xa đồi núi thương yêu thưở nào. Mai này nếu được về thăm thì thầy đã ra đi biền biệt.