Đời Thầy Bát Ngát Hương Thiền

16/10/201717:13(Xem: 7408)
Đời Thầy Bát Ngát Hương Thiền


HT Trí Tâm 2


Chúng con - toàn thể tứ chúng môn phong Tổ Đình Nghĩa Phương

Trước Giác linh đài, cúi đầu thiết nghĩ:

 

Bóng thời gian như chòm mây nổi

Một đời người như bọt nước trôi

Như Lai thị hiện ở đời

Mở khai Phật trí độ người trầm kha

Công viên quả mãn tự tha

Niết Bàn thị tịch Sa La ngài về

Tôn sư gieo hạt Bồ đề

Di lưu giòng Thánh sum suê ruộng lành

Cao sâu đạo nghiệp viên thành

Há không báo đáp nghĩa tình thâm ân !

 

Nhớ Giác Linh xưa

Thọ thân trong gia đình Nho học

Nối dòng khoa bảng Trương gia 

Thuở thiếu thời, sớm có túc duyên

Tìm hiểu giáo lý Phật Đà

19 tuổi bái biệt mẹ cha

Bôn ba từ Bắc vào Nam

Tạm dừng chân nơi miền Thùy Dương cát trắng

Non nước hữu tình của xứ Trầm Hương

Vãng cảnh Nghĩa Lương, ngộ Pháp thâm huyền

Đoạn tuyệt trần duyên, xuất gia học đạo

Bái Đại sư Bích Lâm làm Thầy thọ giáo

 

Từ đó:

Tổ Đình Nghĩa Phương sớm hôm kinh kệ

Giới luật tinh chuyên tâm khai huệ mở

Rồi bảy năm du học xứ mặt trời

Tha phương dốc lòng sôi kinh nấu sử

Công viên quả mãn, hồi nghệ cố hương

Hiếu đạo vuông tròn, kế vãng khai lai

Đào tạo Tăng tài, phụng thân Giáo hội

Tham cầu Hiển Mật học pháp Gia trì

Theo gót Tôn sư Chí Lạc

Mở rộng bi tâm, cứu khổ độ mê

Lợi lạc hữu tình, âm dương hai cõi

Tánh tình hoan hỷ

Trách nhiệm chu toàn

Phật sự lo toan 

Tâm hồn cởi mở

Gương trí huệ không bao giờ vẫn đục

Hạnh từ bi chẳng mấy thuở lạnh lùng

Với Tăng Ni lòng khả ái bao dung

Cùng thiện tín tâm tương đồng bất dị 

 

Với Tông môn Pháp phái

Hết lòng phụng sự ngày thêm rạng rỡ

Cùng sử xanh ghi dấu chân truyền

Việc tu hành há đợi tiếng khen

Khi ứng xử chẳng ai phiền trách

Bả danh lợi giữ mình trong sạch

Trọn một đời trách nhiệm chu viên

Khai sơn tự viện, trùng kiến chùa chiền

Khi thuyết giảng pháp mầu diệu lý

Lúc khoa nghi quy giới thọ truyền

Đường đầu giới luật uy nghiêm

Tông môn tứ chúng danh truyền bất hư.

 

Quả thật! Tâm từ như biển cả

Đúng là: Đức sáng tựa đài gương.

 

Hỡi ôi !

Hương quyện phương bào, nhìn kỷ vật lòng thêm day dứt,

Đèn xao viên đãnh, ngắm chơn dung dạ luống ngậm ngùi.

Bước nguy nan Hoà Thượng chẳng nề

Đường gian khó Tôn sư nào ngại 

Khí tiết tựa Tùng Mai 

Trí bi dường Nhật Nguyệt

Kể nào xiết thượng nhân chi chí

Nói sao cùng đại sĩ chi tâm .

 

Kính bái bạch Giác linh Hòa Thượng

 

Tám mươi bốn năm thọ thân nơi trần thế

Sáu mươi mùa Hạ lạp ngát hương thề

Vai nặng trĩu Tông phong một gánh

Chân gập ghềnh Tổ ấn hai vai

Thạch trụ tòng lâm, mưa nắng khôn nề

Gót hành giả thong dong đi về tự tại

Quán sự vật dường như hoa đóm

Ngẫm thân danh tựa giấc chiêm bao

Chùa Nghĩa Phương một thuở dừng chân, Cao Tăng trở bước

Cõi Tịnh Độ bao phen dốc sức, Thượng sĩ quay về .

Rồi đây, Nghĩa Phương Tổ Đình, Nghĩa Sơn Bửu sát

Mãi mãi vắng bóng bậc Thiền môn Long Tượng

Phật giáo đồ mất đi một thuyền trưởng tài ba

Lèo lái con thuyền giáo hội sóng gió vượt qua

Nghĩ đến Pháp là nghĩ đến lời Thầy dạy

Nhớ đến Thầy là nhớ đến pháp Thầy ban

Nén hương thơm loãng vào trời diệu vợi

Tấc lòng thành đọng giữa cuộc tang thương!

Nhìn kim quan lòng đau mấy nỗi

Nhớ Giác linh dạ xót đòi cơn.

 

Than ôi! Từ nay

Cân bình vắng bóng Tăng hàng

Áo mão mờ trang giáo phẩm!

 

Để rồi

Ca Sa nếp gấp lặng tờ

Lắng yên phương trượng khép hờ bóng đêm.

Thềm Không hiu hắt ánh đèn

Sáng ra hồ thấy bóng Thiền sư đâu 

Còn đây ân đức cao sâu

Thánh thai dưỡng chúng, đạo mầu rộng khơi

Mà nay Thầy giả biệt rồi

Cút côi đồ chúng bồi hồi bổn tâm

Thần hôn cảm vọng ân thâm 

Điếu văn tưởng niệm nhất tâm nguyện cầu

Hoa sen chín phẩm nhiệm mầu

Khứ lai tự tại Thầy vào Chân Như !

Nam mô Nghĩa Phương đường thượng, Khai sơn Nghĩa Sơn tự. Từ Lâm Tế Chánh Tông tứ thập nhất thế húy thượng Không hạ Thành tự Trí Tâm hiệu Huệ Minh hòa thượng Bổn sư Giác linh thùy từ chứng giám.

Khể thủ

Đệ tử: THÍCH THIỆN THÔNG

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/06/2011(Xem: 9097)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9126)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18386)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 17981)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9394)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 27247)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 12686)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.
25/05/2011(Xem: 7187)
Đại lão Hòa Thượng Thích Đồng Huy HT. Thích Đồng Huy - Thành viên HĐCM, Ủy viên HĐTSTW GHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trưởng ban Quản trị Đại Tòng Lâm, Viện chủ Tu viện Vạn Hạnh.
05/05/2011(Xem: 7362)
Từ hôm hay tin Thầy lâm bịnh và tiếng nói yếu ớt của Thầy qua điện thoại làm con rất lo. Nhiều năm qua con cố gắng về thăm Thầy một lần nhưng ước vọng đơn sơ ấy đã không toại nguyện. Hơn hai mươi năm con xa Thầy, xa Tu viện, xa đồi núi thương yêu thưở nào. Mai này nếu được về thăm thì thầy đã ra đi biền biệt.
23/04/2011(Xem: 7311)
Thầy đã đọc toàn bộ bài “Tham luận” Nhân trong ngày “Hội thảo” nhớ “Tổ Sư”, Sự nghiệp tu chứng đắc lý chơn như “Ngài Liễu Quán”, sáng gương ngàn thế hệ.