Điếu Văn Tưởng Niệm HT Thích Minh Tuyền

01/09/201717:29(Xem: 9336)
Điếu Văn Tưởng Niệm HT Thích Minh Tuyền



Chan Dung HT Thich Minh Tuyen_1938-2017-b
ĐIẾU VĂN TƯỞNG NIỆM ÂN SƯ

HUÝ THƯỢNG MINH HẠ TUYỀN


Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch chư Hòa Thượng hội đồng chứng minh tang lễ
Kính bạch chư Tôn đức trong Ban Tang Lễ.
Kính bạch chư Tôn đức hiện diện

Cho phép con thay mặt Tăng Ni tại Nhật bản có đôi lời kính niệm bậc ân sư
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Hàng Tăng ni đệ tử chúng con cung thủ, phủ phục đê đầu đảnh lễ Giác linh Thầy
Kính lạy Thầy,
Vào giờ này một nỗi đau quặn thắt đang ngự trị giữa cõi lòng của hàng thất chúng đệ tử phủ phục trước linh sàng của Thầy, nói sao cho hết những nỗi niềm thương kính
Hỡi ôi
Xứ Phù tang mây trời như kín lại
Đến chư thiên cũng khe khẽ thầm thì
Tiễn thầy về trên lối vô vi
Hàng thất chúng muôn phần thương tiếc
Bóng thời gian xiêu đổ, mờ nhạt cuối trời xa
Thầy ung dung quay gót, nhẹ ngang chốn Ta Bà
Chúng con kính tường
Thuở ấu nhi 7 tuổi thầy gặp tôn sư, nghiên tầm bắt đầu học đạo
Đầy đủ thắng duyên, chùa Bửu Tích, Viên Trí hòa thượng cho thế phát xuất gia gieo mầm thánh chủng
Viện Phật học Hải Đức Nha Trang, thuở thiếu thời nung kinh nấu sử chẳng ngại khó khăn
Thuận thế thường luân, Nha trang xứ chứng minh, giới hạnh viên dung tỳ kheo Minh Tuyền đắc pháp hiệu
Từ đó
Minh chơn tỏa rạng, trung ý từ lương, khởi phát tuệ đăng
Tuyền thông khai lạch, nguyện tâm hải hà, vân du hành đạo
Lịch sử đã ghi dòng:
Đồng chân xuất gia từ thuở nhỏ
Nhập đạo vững một đường tu
Giới tướng viên dung, như trăng sáng xóa mây mù
Hạnh đức kiêm ưu, tợ đất trời tinh túy
24 tuổi kiêm toàn phần ưu tú học
Đất phương nam du hóa thỏa nguyện bút nghiên
Thủ Đức - Hàng Xanh, pháp Tạng tự dựng xây khai chốn tổ
Tuổi 34 đến phù tang quyết tìm sự học từ nguyên
Cao quý thay
Sức việt máu lạc hồng vun đầy trong huyết mạch
Dựng đạo bởi từ tâm thương mến đến cội nguồn
Dẫu hoang sơ vẫn kiên định trong niềm tin với đấng từ tôn
Gieo hạt giống thiện, cưu mang hồn dân tộc
Tháng năm lần lựa
Khổ đau nhường lối vô sinh
Hạnh từ hòa tuệ trí cao minh
Xứng đáng là bậc xuất trần thượng sĩ
Thầy mượn thân tứ đại
Lúc Hoa Kỳ, khi lại đến Úc châu
Đức quốc xa xôi mà tình huynh đệ nhiệm mầu
Việt Nam tự đủ duyên dựng xây
Khai mối đạo lương duyên trên xứ anh đào nhân thiện
Canh Dần niên đủ duyên khai tạo
Nét chạm trổ mang đạo đến với đời
Mang dáng hình dân tộc đến muôn nơi
Tâm thầy rộng chứa dung khôn kể
Nhâm thìn niên hoàn thành tâm nguyện
Mái chùa cong, vang vọng tiếng kinh trầm
Tuổi đã cao, sức tu thêm thậm thâm
Phật pháp nhiệm mầu, muôn vàn vi diệu
Đối với tổ đức tông môn:
Nụ cười Phật sự, lòng Thầy hoan hỷ
Nhất tâm dựng xây, trùng kiến phát huy
Tổ đường, liễng đối, màn trướng, hoành phi
Mang hồn dân tộc trên xứ khách quê xa, muôn điều khó nhọc
Bao nhiêu công trình còn đó
Vẫn còn trong giai đoạn thi công,
Chưa trọn tâm nguyện dựng xây
Trao cho hậu thế. 
Mà Thầy đã nhẹ gót Tây quy
Nhưng hôm nay thật đau đớn thay:
Duyên trần đến hồi phải mãn
Tụ tán quy luật thường tình
Trước dòng sinh tử-diệt sinh
Thầy vội Tây Phương nhẹ bước
Thân tứ đại có hồi đau ốm, mà chí vẫn Như nhiên
Xác ngũ uẩn đến khi suy yếu, nhưng nguyện sâu như Thánh vẫn vững bền!
Kể từ nay:
Lời dạy bảo vẫn còn văng vẳng
Nhưng dung nghi chẳng thấy nơi đâu
Chúng con thành kính khẩn thiết nguyện cầu
Cho Thầy trần lao vãn phãng.
Ao thất bảo trang nghiêm kết bạn
Nước Liên Trì có dáng ân sư
Chúng con tất dạ tạ từ
Bậc Thầy giới thân đức độ
Tổ đình việt Nam ai lâm mẫn cố
Tăng ni Việt Nam khắc cốt ghi tâm
Nhớ thương Thầy bóng dáng ai lân
Cầu nguyện xứ liên đài Thầy mĩm cười nhẹ bước
Kính bạch giác linh Thầy
Thầy là mẫu người: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Thầy chỉ dạy tứ chúng từng li, từng tí trong cách ăn, thói ở giữa cuộc đời. Giáo dục chúng Tăng bằng những tinh hoa chắt lọc từ những Phật học đường, Phật học Viện mà Thầy đã trải qua. Với tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến, Thầy thiện thệ qua bẫy đời giăng bủa chẳng nao nung. Khế lý, khế cơ nắm trong tay tùy duyên độ chúng. Tùy thời, tùy thế giữ trong lòng uyển chuyển đối nhân. Đạm bạt một đời để chăm lo cho hạnh phúc tha nhân, còn tấm thân thì gầy guột, héo mòn, bệ rạt. Thầy không ngại nắng mưa, gió sương, khuya sớm - cô thân, lẻ bóng, độc hành làm việc vì chúng con còn quá nhỏ không thể sớt chia. Đã bao lần Thầy dạy chúng con, trời đất vô cùng phải vững chải bước đi. Mỗi bước chân qua phải mang hương hoa cho cuộc sống.
Cả cuộc đời Thầy là chuỗi dài của sự thầm lặng hi sinh. Thầy mở rộng vòng tay, không một chút nề hà. Noi gương chí nguyện của Thầy, chúng con nguyện tiếp bước Thầy để kế tục khai lai, dựng xây hạnh nguyện độ sanh viễn xứ, để Tông môn vĩnh chấn, Tổ ấn trùng quang. Huynh đệ anh em chúng con đây sẽ chăm lo cho đàn em ăn học.
Mai đây, cuộc hành trình của hàng hậu học của Thầy sẽ bủa ra trăm hướng, và sẽ chẳng còn khó khăn nào nữa có thể làm nhục ý chí trượng phu mà Thầy đã ung đúc, tác tạo cho đâu. Thầy đã từng nhắn gởi chúng con rằng: “Bỉ ký trượng phu ngã diệc dĩ”(Kia trượng phu ta cũng trượng phu). Ý chí, nghị lực ấy đã tiếp cho chúng con sức mạnh để vượt qua những cơn bĩ cực của thế thái nhân tình.
Thầy đi rồi, Trượng thất đìu hiu, gió lộng vầng trăng tê tái,
Thầy đi rồi, Thiền đường quạnh vắng, lá rơi mặt đất não nùng.
Thầy đi rồi ! Giảng đường bặt tiếng phạm âm, Thích chúng gục đầu buồn tủi,
Thầy đi rồi ! Chánh điện lặng lời phục nguyện, Môn đồ nuốt lệ xót xa.
Chúng con,
Đôi mắt rưng rưng, quỳ thấp đôi chân kính lạy, Giác linh Thầy Phật quốc cao đăng,
Đôi mắt rưng rưng, chấp cao đôi tay khấn nguyện, Giác linh Thầy trực vãng Lạc bang.
Kính thương Thầy vô hạn,
Chúng con cung kính đảnh lễ kính Thầy.


Kính nguyện giác linh Hòa thượng thùy từ minh giám.
NAM MÔ TỪ LÂM TẾ CHÚC THÁNH TÔNG TỨ THẬP TỨ THẾ, NHẬT BẢN KHAI SƠN VIỆT NAM TỰ ĐƯỜNG THƯỢNG, HÚY THƯỢNG NGUYÊN HẠ PHÁP, TỰ MINH TUYỀN, LÊ CÔNG HÒA THƯỢNG GIÁC LINH.

Tăng Ni Phật tử Việt Nam tại Nhật đồng kính lễ giác linh Thầy.
TK. Thích Nhuận Phổ

Địa chỉ: Chùa Hòa Lạc Kobeshi, Nagataku Higashi Shiriike 8-2-14. 653-0022
Chùa Đại Nam Himeji, Shigocho, Sakamoto 157-1.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 5884)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.
09/04/2013(Xem: 9573)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 28350)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13672)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.
09/04/2013(Xem: 9193)
Hòa Thượng Thích Như Điển, thế danh Lê Cường, Pháp tự: Giải Minh, Pháp hiệu: Trí Tâm, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1949 tại xã Xuyên Mỹ, quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Học lực: Cử nhân giáo dục và Cao học Phật giáo tại Nhật Bản. Gia cảnh: Con út trong số 8 người con gồm 5 trai và 3 gái; Thân phụ: Ông Lê Quyên, pd: Thị Tế, Thân mẫu: Bà Hồ thị Khéo, pd: Thị Sắc. Người anh thứ bảy đã xuất gia đầu Phật năm 1958 tại chùa Non Nước, Đà Nẵng. Hiện là Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL, Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo tại Sydney, Úc Đại Lợi.
09/04/2013(Xem: 16685)
Tuyển tập Nhạc Phật Giáo do Nhạc Sĩ Hằng Vang (1933-2021) sáng tác
09/04/2013(Xem: 12110)
Nhìn tổng quát công trình nghiên tầm, khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết học, Thiền học... của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt, một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy, lâu dài, qua nhiều thập niên. Đó là những yếu tố mà ít người có được, để lưu lại cho hậu thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn xác trên dòng sử mệnh quê hương.
09/04/2013(Xem: 20775)
Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn, nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế, vua đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.
09/04/2013(Xem: 17697)
Thiền sư Minh Châu Hương Hải là một tác gia lớn không những của văn học và triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn của văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung. Từ nửa cuối thế kỷ 18, cuộc đời và tác phẩm của Minh Châu Hương Hải đã lôi cuốn sự chú ý của những người trí thức đương thời, trong đó nổi bật nhất là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).
08/04/2013(Xem: 12151)
Tôi may mắn được diện kiến Người một lần duy nhất, vào năm 1990, tại Chùa Huê Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc ấy, tôi làm trợ lý cho thầy Thích Phước Cẩn trong việc vận động phiên dịch và ấn hành Phật Quang Đại Từ Điển. Tôi được Người ân cần khích lệ và truyền trao những kinh nghiệm quý báu về cuộc đời tu học và làm việc Phật sự của Người, trong hơn năm mươi năm qua. Lúc ấy, Người đã tròn 80 tuổi. Sức khỏe của Người còn khá tốt. Tinh thần của Người sáng suốt khác thường. Giọng nói của Người thật từ tốn, nhẹ nhàng.