Hoài Niệm Sư Ân

28/09/201617:55(Xem: 12394)
Hoài Niệm Sư Ân

On Nhu Hue (2)

Hoài Niệm Sư Ân



Lời thưa

 

Bậc đạo sư tác thành nên huệ mạng

Nghĩa tôn sư muôn kiếp nguyện đáp đền

Hòa thượng Bổn sư chúng tôi, thượng NHƯ hạ HUỆ, một đời vì sự nghiệp xương minh Phật pháp. Trên tám mươi năm, từ lúc còn ở trong nước cũng như đến khi ra sinh sống ở nước ngoài, Ngài luôn luôn  tận tụy lo công tác hoằng pháp lợi sanh.

Bình sinh Ngài cũng rất thích thơ văn. Lần đầu tiên Ngài về thăm lại quê hương, BBT nội san Hương Sen cùng quý thi hữu đã làm tặng Ngài tập thơ nhỏ. Khi trở lại Úc quốc, Ngài thường đọc lại nhiều lần một cách rất thích thú, vui vẻ.

            Hôm nay Ngài đã thâu thần diệt độ. Trong tuần chung thất của Ngài - 08.7 Bính Thân (10.08.2016) - BBT nội san và quý thi hữu cũng làm tập thơ tưởng niệm HOÀI NIỆM SƯ ÂN, gồm các bài Đường thi xướng họa và những sáng tác tự do, như đóa hoa lòng để dâng lên cúng dường Giác Linh Ngài, với bao tình cảm sâu đậm của hàng đệ tử đối với cuộc đời hoằng pháp lợi sanh không mệt mỏi của Ngài. Những bài thơ nầy được tập hợp từ đêm thơ tưởng niệm Ân Sư.

            Ngưỡng nguyện Giác linh Ngài thùy từ chứng giám và mong được sự tùy hỷ của tất cả anh em. Trong khi biên tập, với một vài thi hữu ở xa chúng tôi không kịp xin ý kiến, mong nhận được sự thông cảm.

Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. 

 

Kim Tâm Thích Hạnh Niệm




On Nhu Hue (3)
PHƯỚC HUỆ VIÊN MINH

                                                                                           Ngày tuần 49 của Sư phụ

                                                                                          HT thượng Như hạ Huệ

 

Một đời hoằng pháp cứu quần sinh

Tạo tượng, xây chùa, giảng kệ kinh

Khắp chốn ra công khơi ánh giác

Cùng nơi gắng sức độ vô minh

 

Rừng thiền đất Úc hoa tươi cảnh

Cửa đạo trời Tây quả trĩu cành

Phước huệ sáng tròn đăng thượng phẩm

Tám ba hạc thọ trọn tâm tình.

 

 

HỌA

 

 

Nhĩ Khuyết
 
ÂN NGƯỜI
( Họa hoán vận )

Ân Người xiết kể lúc bình sinh
Rộng cửa Thiền đường thuyết giảng kinh
Đất khách ra công khêu đuốc tuệ
Quê nhà dốc sức trải ân tình
Chân tu - thước ngọc đà hoàn nguyện
Đạo quả - khuôn vàng đã chứng minh
Nhẹ bước lên thuyền qua bến Giác
Sau lưng hạt Thiện trái sây cành.

 

***                                            

       

Đinh Trọng Tuyên

 NHỚ THẦY

Thành kính tưởng niệm

Hòa thượng thượng NHƯ hạ HUỆ

 

                 Tam Bảo - nguyện cầu độ chúng sinh

               Từ bi, hỉ xả niệm chân kinh

                Hành thiền khai trí, gieo nhân thiện

                Thọ giới bình tâm, tỏa ánh minh

                Thả cá tung tăng về với nước

                Trả chim ríu rít lại cho cành

                Nhớ ơn Hòa thượng con xin hứa

                Ý cải, thân tu thắm đượm tình

                                                       ***

                                             Doãn Lê

 

Ý ĐẠO TÌNH QUÊ

 

Thập tử, Thầy đi chỉ nhất sinh

Nghìn trùng sóng gió, nghĩ mà kinh

Trời xưa  oằn trĩu lòng quê nặng         

Đất mới vun trồng đạo thánh minh

Y lộng hương thiền bay bốn hướng

Tay nâng hoa pháp rực trăm cành

Vẫn nghe đau đáu từng canh mộng

Cố lý hoài vương nặng nghĩa tình

 

Hoài mong cố lý, mộng phù sinh

Lòng thảnh thơi, chiều kệ sáng kinh

Bến giác tìm về, xua hắc ám

Nguồn mê quyết dứt, đón hồng minh

Trời Nam, Lan Nhã xanh cây trái

Đất Úc, Đàm Hoa đẹp lá cành

Quả mãn, phàm thân Thầy xả bỏ

Trần gian lưu lại vạn thâm tình.

 

***

 

 

Tú Yên

                   

Chí nguyện viên thành

     

 

Nhọc nhằn bước đạo quyết hy sinh

Độ chúng, xây chùa, thuyết giảng kinh

Đất Mẹ hoằng dương nguồn tuệ giác

Trời Tây truyền bá ánh quang minh

Cội từ chăm bón - mầm xanh lá

Gốc đức bồi vun - trái chín cành

Chí nguyện viên thành đăng cực phẩm

Hoa khai liễu nghĩa vẹn thâm tình

                                                      ***   

Cảnh Thu

TƯỞNG NIỆM ÂN SƯ

 

Một kiếp hoằng dương độ chúng sanh

Xây chùa giáo dưỡng thuyết chân kinh

Tham thiền - thầy giảng, thân tâm tịnh

Nhập định - con tu, trí tuệ minh

Đất Tổ, già lam luôn thắm sắc

Trời Tây, vườn đạo mãi xanh cành

Còn đây di huấn, xin trân trọng

Tưởng nhớ ân sư, quý nghĩa tình

                    ***

Nam Phong Ng Thái Ất

VẠN NGHĨA TÌNH

                      -:-

Vững chí tu hành - độ chúng sinh

Am tường muôn kệ với ngàn kinh

Năm châu dấn bước gieo mầm pháp

Bốn bể hòa thân tỏa trí minh

Pháp Bảo Hội An duyên khởi gốc

Pháp Hoa Nam Úc quả sinh cành

Dày công xây đắp cho đời - đạo

Để lại trần gian vạn nghĩa tình .

                ***

 

Lê Thị Ngọc

HOÀI NIỆM

 

Thầy nguyện tu hành cứu chúng sinh

Vì đời tạo phước thấm nhuần kinh

Tăng ni hành đạo theo gương sáng

Phật tử rèn tâm bởi ánh minh

Hoài niệm Ân Sư sương viếng cảnh

Tiếc thương Hòa Thượng gió lay cành

Đường về cõi tịnh hào quang tỏa

Cung tiễn người đi trọn nghĩa tình

                       ***

Thuỳ Hương

VẦNG TRĂNG GIÁC

 

Như vầng trăng giác rọi nhân sinh

Người vẫn hằng chuyên với mõ, kinh

Xa cõi trầm luân nên trí sáng

Lánh vòng tục luỵ để tâm minh

Quê nhà ánh đạo bừng bao nẻo

Đất khách vô ưu nẩy lắm cành

Xả báo thân về miền cực lạc

Giữa trần gian niệm tưởng ân tình

                    ***

                     ***

 

 

Minh Nhàn

            Kính Lạy

         Sư Phụ Thích Như Huệ

 

Ơn đức của Thầy độ chúng sinh

Khai thông giáo pháp thuyết lời kinh

Đúc chuông, dựng tượng lòng viên mãn

Tạo tháp, xây chùa ý chánh minh

Đất Phật rạng ngời cây trĩu quả

Vườn Thiền chói lọi lá sum cành

Xứ người vãng cảnh Tây phương giới

Để lại quê hương trọn nghĩa tình

                       ***

   

 

Khánh Trang

NGUYỆN TIẾP BƯỚC THẦY
Nối bước theo Thầy lớp hậu sinh
Thấm nhuần tiếng kệ với lời kinh
Một đời kính Phật nương bờ giác
Trọn kiếp qui Tăng dựa nẻo minh
Gieo cấy nhân lành người mến cảnh
Vun trồng quả ngọt kẻ yêu cành
Nhớ lời giảng dạy con thầm nhủ
Luôn sống vui tươi trọn đạo tình.

                  ***

 

Trầm Bồi Xuân

TIỄN BƯỚC THẦY ĐI

 

Ngọn gió nồng say giấc tử sinh

Thoáng nghe tin nhạn lặng hồn kinh

Tâm Như - kiên định nương ngôi báu

Trí Huệ -  hành trì hướng ánh minh

Đất khách sân thiền thơm ý đạo

Quê hương vườn pháp ngát hoa cành

Thầy ơi! Tám bốn mùa xuân trải

Ngự lãm đài sen lưu mãi tình

 

                             ***

 

Chung That Su Ong Nhu Hue (90)Chung That Su Ong Nhu Hue (93)
PHẦN SÁNG TÁC
Kim Tâm Thích Hạnh Niệm
NIỆM ÂN
Tưởng niệm Giác linh Sư phụ

 

Từ xa cách Việt Nam và Úc Quốc

Mỗi lần qua bên Sư phụ thân thương

Con hầu trà kể lại chuyện quê hương

Sư phụ nhắc từng lối đi xưa trước

 

Lần nầy đến giữa trời đông rét mướt

Sư phụ nằm chờ đợi phút ra đi

Lặng yên nhìn nào biết nói năng chi

Chỉ cầu nguyện Người thân an thế lạc

 

Rồi buổi tối đại chúng cùng hộ niệm

Trong hiệu Phật Đà, Sư phụ quy Tây

Đường âm dương cách biệt kể từ đây

Thầm kính nguyện CAO ĐĂNG AN LẠC QUỐC

 

Sư phụ đã một đời vì Phật Pháp

Những hiến dâng công đức thật tuyệt vời

Chúng con nguyền noi dấu bước chân Thầy

Hoằng Phật đạo rạng ngời nơi cõi thế

 

Ân giáo dưỡng cao sâu như trời bể

Khắc cốt ghi tâm luôn mãi đáp đền

Phật đạo là vô thượng chẳng gì trên

Nguyện viên mãn báo công ơn tế độ

                     ***

Kim Tâm Thích Hạnh Niệm

 

 

NHỚ MÃI NGÀY HÔM ẤY                                                                                                                                                                       Trời Nam Úc hôm ấy tràn ảm đạm

Mưa sụt sùi và giá rét thê lương

Cố gắng ngăn những đau xót, đoạn trường

Khi đối trước cảnh sanh ly tử biệt

Kể từ lúc máy bay rời đất Việt

Và trên đường thẳng hướng đến Úc châu

Lòng bồn chồn tâm trạng mãi lo âu

Sợ không kịp trước giờ Thầy xả báo

Vừa đến nơi liền chỉnh tề y hậu

Vào viếng thăm Sư phụ tại liêu phòng

Viên Tịnh,  quý Cô đảnh lễ Sư Ông

Con đứng lịm sau mấy lời tắt nghẹn

Qua giây phút bàng hoàng và im lặng

Liền cùng nhau niệm Phật để nguyện cầu

Thầy ra đi chỉ độ mấy giờ sau

Con vạn hạnh tiễn chân Người phút cuối.

                      ***

Kim Tâm Thích Hạnh Niệm

 

 

THUYỀN BÁT NHÃ THUNG DUNG                                                                                                                                                    

Bên ly trà buổi sáng

Ngồi nhâm nhi một mình

Người xưa đà quá vãng

Tìm đâu nữa âm dung

Ngẫm cuộc đời ngắn ngủi

Trăm năm với vô cùng

Còn chăng là sự nghiệp

Lưu nhân thế soi chung

Hoàn nguyên chân diệu chỉ

Muôn thuở săc là không

“Bổ n lai vô nhất vật”

Thuyền Bát nhã thung dung

                    ***

Kim Tâm Thích Hạnh Niệm

Vu Lan – Niệm Ân Thầy

Tuần chung thất Sư phụ

Hòa thượng thượng NHƯ hạ HUỆ

 

Thầy xả báo trước mùa thu lá đổ

Ngày tuần chung đúng vào tiết Vu-lan

Niệm ân thâm thành kính viết đôi hàng

Con ngưỡng nguyện Giác Linh đăng thượng phẩm

Đường trần thế kể từ khi dọ dẫm

Theo chân thầy con học pháp Như Lai

Rõ sắc không hư huyễn vốn không hai

Cửa không sắc ra vào vui ánh đạo

Nhìn trần thế đầy những điều điên đảo

Bao lọc lừa với xảo trá điêu ngoa

Cùng một đường hôm sớm mãi vào ra

Không chung lối – hướng chân về giải thoát

Bước từng bước thênh thang đầy an lạc

Tâm niệm tâm thanh thản hướng hương quê

Ngày không xa viên mãn đạo Bồ Đề

Con ngưỡng đức tác thành nên huệ mạng.

                              ***

Kim Tâm Thích Hạnh Niệm

Vu Lan     

 

Không chỉ đến ngày Vu Lan mới nhớ

Mà Vu Lan là dịp thể tâm đồng

Muôn vạn người con hiếu thảy một lòng

Dâng nguyện ước báo thâm ân muôn một

Vu Lan pháp ngàn xưa Từ Tôn Phật

Vì Mục Liên Tôn giả đã dạy ban

Để ngàn sau con Phật được vẹn toàn

Hoa hiếu hạnh nở lừng hương cõi tục

Vu Lan nhắc ơn mẹ cha dưỡng dục

Cho những ai còn lơ đểnh, hững hờ

Để người người hồi tưởng thuở còn thơ

Ân bú mớm, ẵm bồng, thương mến trẻ…

Vu Lan đã ngày nay thành quốc lễ

Dân Việt ta truyền thống hiếu muôn đời

Nghĩa mẹ, ân cha lồng lộng biển trời

Nguyện báo đáp – Sáng ngời gương hiếu hạnh.

                              Bính Thân - 2016

 

 

 

             DOÃN LÊ

  VỌNG TẠ ÂN SƯ

                                 *

Con vọng hướng cõi trời xa Nam Úc

Cúi mọp người kính bái tạ Ân Sư

Xả ngũ uẩn, Thầy an nhiên thị tịch

Bỏ cuộc trần như huyễn mộng phù hư

 

Nhớ năm ấy, cha con lìa cõi thế

Chỉ mình Thầy lo hậu sự, ma chay

Lòng bi mẫn với tinh thần vô úy

Ấm tang gia - thấm đẫm nghĩa ân Thầy

 

Ngày tháng đó trời giăng sầu mây xám

Chùa lặng thầm, u ẩn tiếng chuông rơi

Buồn cánh gió, Bồ Đề rưng mắt lá

Tiễn đưa Thầy mù mịt vạn trùng khơi

 

Hơn ba mươi năm thăng trầm đất khách

Bóng y vàng lồng lộng nẻo trời xa

Truyền Chánh Đạo, khơi dòng khai Thánh giáo

Vẫn từng đêm đau đáu mộng quê nhà

 

Trước di ảnh, khôn ngăn dòng nước mắt

Tạ ân Thầy, vòi vọi đỉnh non cao

Trên thượng phẩm, như nhiên Lăng Già nguyệt

Hình bóng Thầy sáng mãi giữa trăng sao

 

 

                                                           ***

 Nguyên Thọ - Ngàn Thương

 

CỘI NGUỒN THẢNH THƠI

 

Gương Thầy Phước Huệ Viên Minh

Suốt đời đạo hạnh, cửa Thiền hoằng dương

Thân tứ đại về quê hương

Viên dung môi nở, cội nguồn thảnh thơi.

 

SÁNG NGỜI QUẦN SINH

 

Con chưa được diện kiến Thầy

Chợt nghe cánh hạc vút bay mất rồi

Tâm từ tế độ hoa khai

Giác linh Hòa Thượng, sáng ngời quần sinh.

 

                                                         ***

 

Trầm Tuyết Mai

THẦY ĐÃ RỜI XA

Thầy vừa viên tịch ở miền xa

Nước Úc trời Âu đệ thứ gia

Muôn triệu đồng hương thương đức độ

Hàng ngàn Phật tử mến tài ba

Để dân khắp chốn nhuần chân lí

Cho cảnh quần phương hiểu Phật Đà

Kính ngưỡng thành tâm con chấp bút

                               Nguyện cầu thượng phẩm thắng liên hoa

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/10/2019(Xem: 26841)
Hòa thượng Giác Khang thế danh Tô Văn Vinh sinh năm 1941 tại tỉnh Bạc Liêu. Thân sinh là cụ ông Tô Khanh. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Vén. Gia đình có 5 trai, 5 gái. Hòa thượng là con thứ 8 trong gia đình. Hòa thượng tốt nghiệp Tú Tài và học Cao đẳng Sư phạm. Ra trường đi dạy học ở Cái Côn – Cần Thơ.
20/10/2019(Xem: 5699)
Hòa Thượng Thích Huệ Quang (1927 - 2009) - Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Chứng minh Ban trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hòa - Huynh Trưởng Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương - Viện chủ Chùa Đông Phước, Phước Long, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
20/10/2019(Xem: 7712)
Hoà thượng Thượng HOÀN Hạ QUAN, thế danh Phạm Ngọc Thơ. Pháp danh NHƯ CỤ THIỆN. Pháp tự GIẢI TOÀN NĂNG. Pháp hiệu THÍCH HOÀN QUAN. Sinh ngày 16-09-1928 (Năm Mậu Thìn) tại làng Phước Long, nay là thôn Hoà Bình xã Nghĩa Hoà huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Song thân của Ngài là Phạm Công Phạm Khánh Lâm và Cụ bà là Trần Thị Thưởng. Cụ Ông và Cụ bà đã hạ sinh được 6 người con, gồm 2 trai 4 gái, Ngài là người con thứ 5 trong gia đình.
20/10/2019(Xem: 4812)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc. Năm 21 tuổi (1916) nhận thấy cảnh thế phù du, cuộc đời là vô thường, giả tạm, Ngài quy y thọ giới tại chùa Cảnh Tiên. Năm 22 tuổi (1917) Ngài được nhập chúng tu học ở chùa Quang Lộc trong tỉnh, được ban pháp danh Chơn Húy. Sẵn có căn bản Hán học vững chắc, Ngài thâm nhập kinh tạng rất mau chóng. Ngài lần lượt thọ giới Sa Di và nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát với pháp hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Ngài trở thành một vị giảng sư Phật học nổi tiếng.
20/10/2019(Xem: 8049)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc. Năm 21 tuổi (1916) nhận thấy cảnh thế phù du, cuộc đời là vô thường, giả tạm, Ngài quy y thọ giới tại chùa Cảnh Tiên. Năm 22 tuổi (1917) Ngài được nhập chúng tu học ở chùa Quang Lộc trong tỉnh, được ban pháp danh Chơn Húy. Sẵn có căn bản Hán học vững chắc, Ngài thâm nhập kinh tạng rất mau chóng. Ngài lần lượt thọ giới Sa Di và nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát với pháp hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Ngài trở thành một vị giảng sư Phật học nổi tiếng.
20/10/2019(Xem: 7570)
Cố HT. Bửu Chơn tên thật Phạm Văn Tông, sinh ngày 25/10/1914, tại làng An Hội ‒ Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Ngài là con của cụ ông Phạm Văn Dư và cụ bà Lê Thị Dương. Tuổi thơ, ngài học ở trường làng, trường Tây, nhờ siêng năng, chăm học nên đã đậu bằng Preme. Năm 1930, ngài sang Nam Vang làm công chức trong cơ quan Việt Nha địa chính.
20/10/2019(Xem: 6464)
Hòa thượng Phước Hậu, pháp húy Trừng Thịnh, pháp tự Như Trung, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 42. Ngài thế danh Lê Văn Gia, sinh năm Bính Dần(1866), nhằm Tự Đức thứ 15, tại xã An Tiêm, huyện Đồng Quan, tỉnh Thái Bình.
20/10/2019(Xem: 8269)
Hòa thượng Pháp húy Ngộ Trí, đạo hiệu Thích Huệ Hưng, thế danh Nguyễn Thành Chẩm, thuộc dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 39, là đệ tử Sư tổ Vạn An (Sa Đéc). Ngài sinh năm Đinh Tỵ (1917) tại làng Mỹ Thọ, quận Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là cụ Nguyễn Minh Biện, pháp danh Minh Chiếu, thân mẫu là cụ Trần Thị Mậu, pháp danh Diệu Thiệt. Năm 62 tuổi, cụ bà xuất gia thọ giới Sa di ni.
20/10/2019(Xem: 5739)
Quốc sư tên thật là Nguyễn Tấn Giao, sinh năm Kỷ Tỵ (1869) tại làng Phú Thành, phủ An Nhơn, nay là ấp Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ Nguyễn Chánh Niệm, tự Hòa Bình, thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Lãnh, ông bà đều là những Phật tửthuần thành. Năm 12 tuổi (1881), Ngài được cha mẹ cho phép xuất giatại chùa Thập Tháp, thọ giới với Hòa thượng Chí Tịnh (Minh Lý) được ban pháp hiệu là Phước Huệ. Một thời gian sau, Ngài được Bổn sư cho tới chùa Tịnh Lâm ở huyện Phù Cát, Bình Định theo học với Hòa thượng chùa Châu Long là Ngài Từ Mẫn. Năm 19 tuổi, Ngài trở về giữ chức Thủ khố của Tổ đình Thập Tháp. Năm 20 tuổi Ngài vào chùa Từ Quang ở Đá Trắng huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên theo học với Hòa thượng Luật Truyền (Pháp Chuyên). Ngài thọ đại giới năm 1889 và đắc pháp năm 1892 với Hòa thượng Luật Truyền.
20/10/2019(Xem: 6571)
Hòa Thượng Thích Mật Thể (1912 - 1961) Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.