Thành Kính Tưởng Nguyện

24/06/201614:40(Xem: 11134)
Thành Kính Tưởng Nguyện



Chan dung Duc Truong Lao HT Thich Nhu Hue-4 (1934-2016)
Letterhead_Giao Hoi Uc Chau 2015
Số 19-05/HĐĐH/TN              PHẬT LỊCH 2560, Úc Châu ngày 24 tháng 6 năm 2016

 

THÀNH KÍNH TƯỞNG NGUYỆN

Trưởng Lão Hòa Thượng Chứng Minh Đạo Sư viên tịch

                                        

Kính gởi: Chư Tôn Thiền Đức và Môn đồ Pháp quyến

 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan vô cùng kính tiếc báo tin Trưởng Lão Hòa Thượng thượng Như hạ Huệ, tự Giải Trí, hiệu Trí Thông, húy Phạm Kim Huệ, sinh năm Giáp Tuất 1934 tại Điện Bàn, Quảng Nam, Việt Nam, đã an nhiên thu thần thị tịch vào lúc 9.25 phút tối Thứ Năm 23 tháng 6 năm 2016, nhằm ngày 19 tháng 5 năm Bính Thân tại Tổ Đình Pháp Hoa, Thành phố Adelaide, Tiểu bang Nam Úc, Úc Châu. 60 Hạ Lạp. 83 thế tuế.

 

Tang Lễ của Ngài được trang trọng tổ chức: Lễ nhập Kim Quan cử hành lúc 4 giờ chiều Thứ Bảy 25-6-2016. Kim Quan của Ngài được tôn trí tại Tổ Đình Pháp Hoa suốt thời gian Tang Lễ để từng Đạo Tràng luôn phiên tụng niệm, cung bái, đảnh lễ, tiễn biệt. Tối Thứ Tư 29-6--2016, Lễ Truy Niệm tưởng nhớ Giác Linh và Tâm Tình Đạo Vị của Chư Tôn Đức cùng Môn đồ Pháp quyến.  Vào lúc 8 giờ sáng Thứ Năm 30-6-2016 nhằm ngày 26 tháng 5 âm lịch là Đại lễ Cung tiễn Kim Quan nhập Lễ Trà Tỳ.

 

Cuộc đời và hành trạng của Trưởng Lão Hòa Thượng trải qua hơn 2/3 thế kỷ nhẫn nại can hệ mọi thăng trầm vinh nhục cùng vận mệnh của Phật Giáo và Dân Tộc. Ngài sát cánh dấn thân cùng Tăng Tín đồ trong Pháp Nạn Phật Giáo 1963. Ngài từng đảm nhiệm Chánh Đại Diện GHPGVNTN, Giám Đốc Trường Trung Học Bồ Đề Hội An, tỉnh Quảng Nam Đã Nẵng.

 

Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Nh Huệ là một trong "Quảng Nam Tứ Trụ": Cố HT Thích Như Vạn, Cố HT Thích Long Trí, Cố HT Thích Chơn Phát vừa viên tịch tại VN, vị thứ tư là HT Thích Như Huệ, đương vi Chứng Minh Đạo Sư Giáo Hội Phật Giáo VNTN Hải Ngoại tại Úc Châu, Trưởng Môn phái Chúc Thánh Hải Ngoại, mới viên tịch tại Úc Châu.

 

Như phần đông ghi nhận và tán thán: chính "Quảng Nam Tứ Trụ" này là thạch trụ thiền môn, là đại thụ Tông môn Pháp phái Chúc Thánh Quảng Nam Đà Nẵng, mà hầu hết Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni đã đang hành đạo khắp nơi từ quốc hội cho đến hải ngoại đều là đệ tử học trò, hay là hàng hậu học của quý Ngài. Riêng tại Úc Châu này, Ngài là đầu tàu, là bậc lãnh đạo lèo lái con thuyền Phật Giáo Úc Châu suốt 34 năm qua.

 

Thể hiện tấm lòng tôn kính sự ra đi của Trưởng Lão Hòa Thượng, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan thành tâm chia sẻ cùng Chư Tôn Đức và Môn đồ Pháp quyến toàn hải ngoại quốc nội; đồng thời, khuyến thỉnh các cơ sở Tự Viện thành viên Giáo Hội, tùy nghi thiết lễ tưởng nguyện, khẩn thiết thân lâm về Pháp Hoa Tổ Đình, nhất nhất cùng nhau tham dự cầu nguyện Giác Linh Ngài và cung tiễn Kim Quan đức Trưởng Lão nhập Lễ Trà Tỳ.

 

Nhất tâm cầu nguyện Giác Linh Trưởng Lão Hòa Thượng nhập vô sanh pháp nhẫn, đáo hoa tạng huyền môn, vì bản hoài hạnh nguyện, sớm hồi nhập Ta bà, cùng hàng pháp lữ, hoằng dương chánh pháp, chuyển hóa chúng sanh.

 

NAM MÔ TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT

 

 Đồng thành kính tưởng nguyện:

Chư Tôn Đức Hội Đồng Điều Hành

cùng Tứ Chứng đệ tử. 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/06/2011(Xem: 9816)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.
22/06/2011(Xem: 13068)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 8210)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9498)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9497)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18998)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 19448)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9879)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 28769)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 13487)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.