Lễ Tri Ân Nhị Vị Trưởng Lão Hòa Thượng

15/04/201607:56(Xem: 10060)
Lễ Tri Ân Nhị Vị Trưởng Lão Hòa Thượng
khanhtue-htnhuhue (104)

Lễ Tri Ân Nhị vị Trưởng lão
Hòa Thượng Thích Huyền Tôn & Hòa Thượng Thích Như Huệ
 

 

Như chúng ta đã biết, Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan sẽ tổ chức Lễ Tri Ân nhị vị Trưởng lão, Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng Thích Huyền Tôn và Trưởng lão Hòa Thượng Chứng Minh Đạo Sư Thích Như Huệ, được đưa ra thành một mục trong chương trình nghị sự của phiên họp Hội Đồng Điều Hành ngày 31-12-2015 tại Khóa Tu Học Phật Pháp Úc Châu kỳ thứ 15, tất cả Chư Tôn đều đồng thuận, hoan hỷ, tán thành, nên làm, phải làm đã nói lên sự trân trọng, nghiêm túc và trọn vẹn ý nghĩa Lễ Tri Ân này.

 

Tứ Trọng Ân, một bài pháp hệ trọng chính Đức Phật đã dạy, đó là: Ân Cha Mẹ, Ân Tam Bảo, Ân Quốc gia Dân tộc, Ân Thầy bạn Chúng sanh. Bài pháp Tứ Trọng Ân xuyên suốt hành trình 2,600 năm lịch sử hoằng hóa lợi sanh của Phật Giáo, băng qua mọi thăng trầm hưng phế, vượt qua mọi góc độ không gian thời gian, không phân chia chủng tộc màu da, không cách ngăn biên cương lãnh thổ. Tứ Trọng Ân luôn được truyền trao, nhắc nhở, xưng tụng, tuyên dương, không những một lần hai lần mà đã muôn ngàn vạn ức lần, không những một năm hai năm mà đã 2,600 năm, nhất là mỗi Mùa Vu Lan Thắng Hội, nơi nơi tán tụng, xứ xứ ngưỡng tôn. Mỗi thời Nghi Lễ, mở đầu Kỳ Nguyện, kết thúc Phục Nguyện, vẫn thường nghe xướng rất tôn nghiêm: "Thượng, báo Tứ Trọng Ân". Hay trước khi đi vào trì tụng các Kinh điển Đại Thừa đều khởi đầu lời chân thành khánh tán: "Trên, đền Bốn Ơn Nặng".

 

Chữ "Ân" trong Phật Giáo, diễn rộng ra sẽ mênh mông vô tận, nhận thâm sâu sẽ rộng lớn vô cùng. Gần gũi nhất, thân thiết nhất, mỗi Chư Tăng Ni, mỗi vị Khai sơn Thạch trụ, đương vi hay kế thế Trụ Trì, đều mang ân rất lớn của đàn na tín thí, của Phật tử Đệ tử Tín đồ, của bá gia bá tánh gần xa muôn phương tám hướng.

 

Trong phạm vi Úc Châu, trong Giáo Hội chúng ta, với Trưởng lão Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng, Ngài năm nay đã 89 niên kỷ, gần 70 Hạ Lạp; với Trưởng lão Hòa Thượng Chứng Minh Đạo Sư, Ngài cũng 84 tuổi hạc, gần 60 Hạ Lạp. Thưa rằng, ngoài Hòa Thượng đương vi Hội Chủ, và 2 Ni Trưởng thuộc Ni Bộ, tất cả Chư Sơn còn lại, nói về tuổi đời có lẽ đều là hàng con hàng cháu của hai Ngài, nói về ngày vào chùa tu học hay năm tháng xuất gia thọ giới, dù có thể không là đệ tử học trò nhưng chắc chắn là hàng hậu học hơi gần hoặc khá xa của nhị vị.

 

Bóng dáng Phật Giáo Việt Nam tại Úc Châu đã hiện hữu vào đầu thập niên 1980 chính là sự hiện diện của những vị Tăng sĩ vượt biên tỵ nạn định cư đầu tiên hội tụ trên quốc độ này. Hai Ngài cùng các vị đã tiếp tục sự khởi đầu, sáng lập, khai sơn, cưu mang, gánh vác, phụng sự, dấn thân. Theo thời gian, nhiều Chư Tăng Ni đến sau, đã cùng phối hợp nhịp nhàng, cùng gắn bó keo sơn, miệt mài tận tụy, đóng góp hy sinh, bảo tồn phát huy hơn 15 năm kinh qua danh xưng Tổng Hội, Giáo Hội Thống Nhất, và Giáo Hội Thống Nhất Hải Ngoại 16 năm nay.

 

Từng vùng trời, từng vùng đất trên khắp châu lục Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan này, khi thì bằng hàng không, khi thì bằng đường bộ, biết bao lần hai Ngài đã đến, biết bao lần hai Ngài đã đi. Hơn 30 năm, biết bao nhiêu Trụ xứ, biết bao nhiêu Đạo tràng; nào Khóa học, Khóa tu, Huấn luyện; nào An cư, Hiệp kỵ, Tưởng niệm, Tri ân; nào Đặt đá, Lạc thành, Khánh thành; nào Chẩn tế, Thủy lục Đàn tràng siêu linh bạt độ, ... cho đến các Thời khóa Công phu, Thiền tọa, Thiền hành, Trai đường, Hội họp, Cầu nguyện, Cứu trợ, Từ thiện,... vân vân và vân vân, khi nào hai Ngài cũng có mặt và lúc nào hai Ngài cũng hiện diện: Chứng minh, Chủ lễ, Niêm hương, ban Huấn từ, Đạo từ, Khai thị, đi đầu, đứng đầu, ngồi đầu, đường đường trang nghiêm như thị. Hơn 30 năm, không gian còn ghi, thời gian còn giữ. Dẫu biết rằng "Nhạn quá trường không" nhưng không gian lưu giữ cũng tùy! "Ảnh trầm hàn thủy", nhưng nước kia trân quý có sao!

 

Hơn 30 năm trước, nơi nào cần hai Ngài cũng đến, nơi nào thỉnh hai Ngài cũng đi, đi không biết mỏi, đến không nặng lao. Hơn 30 năm sau, cố nhiên, hai Ngài vẫn đến vẫn đi, vẫn quang lâm như hai đại thụ, vẫn chấn tích nhưng phải cố gắng, phải nhờ cây gậy đỡ châu thân. Một vị gần 90, một vị gần 8 rưỡi, Đại lão Tăng già, Trưởng lão Thiền gia. Ba vạn sáu, cửu thập gần tròn. Kiếp nhân sinh, bát thập đã dư. Sắt thép còn mòn, sỏi đá còn tiêu, huống chi tấm thân tứ đại giả huyễn vô thường!

 

Hơn 30 năm, Chư Tôn Đức Tăng Ni chúng ta cùng hành hoạt trên con thuyền Giáo Hội, khi sóng phủ tơi bời, khi yên ả thùy dương, khi an nhiên tự tại, khi lửa tấp vô chừng, cay đắng cùng chia, ngọt bùi cùng nhận, ân nghĩa nói sao cho hết, keo sơn nói sao cho cùng. Ôi, cao cả thay tình cốt nhục linh sơn! Ôi, trân quý thay tình Pháp lữ sâu dày!

 

Hơn 30 năm, gần gũi hai Ngài, đã quá tương thân. Hơn 30 năm, tôn trọng hai Ngài, chính là tương kính. Nhị vị Trưởng lão lớn nhất trong Giáo Hội, giữ cương vị cao nhất trong Giáo Hội, hy sinh cống hiến phụng nguyện thời gian lâu nhất trong Giáo Hội, xứng đáng để toàn Giáo Hội tri ân tán dương hôm nay, lưu lại nét son cao quý đầu tiên cùng những nét son kế tiếp trong lịch sử Giáo Hội tại Úc Châu, và truyền lưu hậu thế.

 

Nhân Lễ Tri Ân của Giáo Hội, chân thành xin viết những lời thô thiển dâng lên nhị vị Trưởng lão, kính chúc hai Ngài pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu.

 

Khể thủ

Chùa A Di Đà

Sydney ngày 14-4-2016

Tỳ kheo Thích Nguyên Trực




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 5868)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.
09/04/2013(Xem: 9565)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 28302)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13659)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.
09/04/2013(Xem: 9180)
Hòa Thượng Thích Như Điển, thế danh Lê Cường, Pháp tự: Giải Minh, Pháp hiệu: Trí Tâm, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1949 tại xã Xuyên Mỹ, quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Học lực: Cử nhân giáo dục và Cao học Phật giáo tại Nhật Bản. Gia cảnh: Con út trong số 8 người con gồm 5 trai và 3 gái; Thân phụ: Ông Lê Quyên, pd: Thị Tế, Thân mẫu: Bà Hồ thị Khéo, pd: Thị Sắc. Người anh thứ bảy đã xuất gia đầu Phật năm 1958 tại chùa Non Nước, Đà Nẵng. Hiện là Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL, Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo tại Sydney, Úc Đại Lợi.
09/04/2013(Xem: 16654)
Tuyển tập Nhạc Phật Giáo do Nhạc Sĩ Hằng Vang (1933-2021) sáng tác
09/04/2013(Xem: 12088)
Nhìn tổng quát công trình nghiên tầm, khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết học, Thiền học... của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt, một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy, lâu dài, qua nhiều thập niên. Đó là những yếu tố mà ít người có được, để lưu lại cho hậu thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn xác trên dòng sử mệnh quê hương.
09/04/2013(Xem: 20739)
Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn, nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế, vua đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.
09/04/2013(Xem: 17682)
Thiền sư Minh Châu Hương Hải là một tác gia lớn không những của văn học và triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn của văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung. Từ nửa cuối thế kỷ 18, cuộc đời và tác phẩm của Minh Châu Hương Hải đã lôi cuốn sự chú ý của những người trí thức đương thời, trong đó nổi bật nhất là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).
08/04/2013(Xem: 12125)
Tôi may mắn được diện kiến Người một lần duy nhất, vào năm 1990, tại Chùa Huê Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc ấy, tôi làm trợ lý cho thầy Thích Phước Cẩn trong việc vận động phiên dịch và ấn hành Phật Quang Đại Từ Điển. Tôi được Người ân cần khích lệ và truyền trao những kinh nghiệm quý báu về cuộc đời tu học và làm việc Phật sự của Người, trong hơn năm mươi năm qua. Lúc ấy, Người đã tròn 80 tuổi. Sức khỏe của Người còn khá tốt. Tinh thần của Người sáng suốt khác thường. Giọng nói của Người thật từ tốn, nhẹ nhàng.