Lời dạy của Ôn

14/03/201617:54(Xem: 9515)
Lời dạy của Ôn

 
HT Huyen Ton (10)

Lời dạy của Ôn

 

Con xin nguyện đời đời kiếp kiếp quy y Phật,

Con xin nguyện đời đời kiếp kiếp quy y Pháp,

Con xin nguyện đời đời kiếp kiếp quy y Tăng,

Đó là lời khấn nguyện mỗi buổi sáng, hằng ngày của con khi thắp nhang trên bàn thờ Phật hay bất cứ nơi nào, lúc nào khi con đảnh lễ Phật. Những lời khấn nguyện này con đã được học từ lời dạy quý báu của Ôn.

Mười mấy năm nay, kể từ ngày vào Tu Viện Quảng Đức sinh hoạt, con được gặp Ôn trong các dịp lễ lạc, các công việc Phật sự của Chùa, của Giáo hội và phúc duyên cho con được nghe Ôn giảng Pháp ở các khóa An cư, các khóa Tu học Phật Pháp Úc Châu, các ngày thọ Bát quan trai v.v… Để rồi Ôn đã giúp con vun bồi thêm tư lương về Giáo Pháp của Phật, giúp con trau giồi kiến thức về nhân sinh quan của Phật giáo, giúp con nhận thức sâu sắc và chính chắn về cuộc sống, con người v..v…Và đặc biệt chị em và gia đình con hội đủ duyên lành nên đã được Ôn đến chứng minh, gia tâm chú nguyện cho Hương linh của Ba con được sớm thác sanh về cõi giới an lành khi Ba con qua đời, cũng như lễ chung thất của Ba con tại Tu Viện Quảng Đức. “Ơn sâu nghĩa nặng” là điều Ba Mạ con dạy anh chị em con từ nhỏ, câu thành ngữ này đã ăn sâu vào trong máu huyết của con cho nên con luôn khắc cốt ghi tâm những gì con nhận được  từ Ôn.

“Hoang mang giữa quãng đêm trường

Nhờ đèn Tam Bảo soi đường chúng sinh

Mênh mông bể khổ linh đinh

Nương thuyền Tam Bảo chúng sinh thoát nàn”

 

Con từng được nghe quý Thầy, quý Cô dạy, sanh ra đời làm người đã khó, gặp Phật Pháp còn khó hơn, nhưng con thiết nghĩ nghe được lời dạy và thực hành lời dạy đó cho đúng chánh pháp lại càng khó hơn nữa. Ôn chính là một trong những Vị Ân sư đã và đang dìu dắt, chỉ lối cho con trên con đường tu dưỡng đời sống tâm linh bản thân mình. Con thật sự không đủ vốn từ để diễn đạt cho hết những gì con biết về Ôn và cảm nhận về Ôn, con chỉ xin mượn lời ca để tỏ lòng thành kính tri ân, biết ơn sâu sắc đến Ôn:

“Lời Thầy như nắng ban mai

Cho con thức giấc mộng dài trần gian

Lời Thầy như gió trên ngàn

Cho con bay giữa vô vàn khổ đau

Thầy đi trước, con bước sau

Vang tiếng chánh pháp nguyện màu sắc son

Thầy đi trước, con bước sau

Vàng thiêng chánh pháp, sắc son một lòng”

Con nguyện luôn mãi mãi là người con Phật chân chính hiếu đạo như Ôn hằng trông mong nơi hàng Phật tử chúng con. Con xin nguyện cầu mười phương chư Phật từ bi gia hộ cho Ôn được thiệt nhiều sức khỏe để tiếp tục dẫn dắt chúng con trên con đường giải thoát và giác ngộ.

 

Melbourne Mùng 6 tháng 2 năm Bính Thân

Đệ tử Quảng Hương

(Xem bài cùng tác giả)

Ý kiến bạn đọc
14/03/201621:56
Khách
Con cung kính đảnh lễ Ngài . Biết Ngài hơn 30 năm nhưng vẫn thấy Ngài không thay đổi. Thẳng thắn, chân thật, và vẫn còn Nói Lập Tức khi thấy việc Bất Bình.... smile emoticon .... Con vẫn thích nhất là những buổi sáng sớm cùng Ngài tụng Chú Lăng Nghiêm đến đoạn Tán Phật, Ngài đánh trống nghe vang đến 33 tầng trời... Rồi những buổi Ngài lái xe đưa Thầy Trò đi ăn trưa tại nhà hàng chay 5 sao tại Melbourne, và Ngài nhất định đòi trả tiền. Những kỷ niệm một đời , một kiếp nhân sinh.... Con vẫn luôn ghi nhớ lời Ngài dặn: Cố Tu nhé....
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10875)
Đọc qua các Thiền sư Việt Nam từ xưa đến nay, chưa thấy một người nào đã chinh phục được các hàng vương tôn, quý tộc, khiến cho họ tín nhiệm, quy y và ủng hộ hết mình như Thiền sư Pháp Loa. Sư là một con người tích cực hoạt động, suốt đời tận tụy phục vụ đạo pháp cho đến hơi thở cuối cùng. Điều đặc biệt quan tâm của Sư là ấn hành Đại Tạng kinh, do đó đã đề xuất, tiến hành và in xong bộ Đại Tạng kinh Việt Nam. Ngoài ra, Sư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thống nhất Phật giáo, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam, và Sư là người thứ nhất đúng ra thiết lập sổ bộ Tăng, Ni và tự viện trên khắp cả nước.
09/04/2013(Xem: 9478)
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan Hành khiển dưới triều Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên.
09/04/2013(Xem: 8688)
Truyền thống Phật giáo Việt Nam từ truớc đến nay vốn thiên về Phật giáo Phát triển hay Đại thừa; mãi đến năm 1959 lần đầu tiên bộ kinh Trường A Hàm do Hòa thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch được xuất bản thì Phật giáo Nguyên thủy mới được các Phật tử chú ý đến. Mặc dù bộ kinh này nằm trong Hán tạng thuộc hệ thống Phật giáo Phát triển, nhưng tinh thần của nó thì tương quan mật thiết với 5 bộ Nikàya trong giáo lý Nguyên thủy.
09/04/2013(Xem: 8427)
Phương Tây có câu tục ngữ "Hoạn nạn làm lớn con người". Phương Đông cũng có câu danh ngôn tương tự "Ngậm cay đắng trong cay đắng mới làm con người trên loài Người". Trường hợp của Trần Thái Tông sao mà ứng với hai câu này đến thế?
09/04/2013(Xem: 8727)
Hòa thượng Thích Thiện Châu Nguyên Đạo (Đọc tại buổi lễ tưởng niệm và lễ Trà Tỳ Hòa thượng Thích Thiện Châu) Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1931 tức ngày 7 tháng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần.
09/04/2013(Xem: 35791)
Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn Văn Hương và cụ Trần Thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ 10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái.
09/04/2013(Xem: 10329)
Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, thế danh Vũ Văn Khang, sinh ngày 23/12/1921 (Tân Dậu), tại làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Cụ Ông Vũ Đức Khanh, thân mẫu là Cụ Bà Đỗ Thị Thinh. Hoà thượng có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái. Ngài là con thứ 4 trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 8372)
Lý Càn Đức (Bính Ngọ 1066 - Mậu Thân 1128) là vua thứ 4 nhà Lý, con trai duy nhất của vua Lý Thánh Tông và Ỷ Lan phu nhân tức Linh Nhân hoàng hậu. Càn Đức sinh ra ở Cung Động Tiên, gác Du Thiềm (gác thưởng Trăng) vào tháng Giêng năm Bính Ngọ, niên hiệu Chương Thánh năm thứ 8 (23-2-1066), hồi vua Thánh Tông đã ngoài 40 tuổi. Một ngày sau ngày sinh thì được lập làm Thái tử, 6 tuổi vua cha mất, được tôn làm vua, tức vua Lý Nhân Tông. Vua có tướng hảo, tâm hiền, bản chất thông minh dũng lược.
09/04/2013(Xem: 9224)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con người và sự nghiệp Lý Công Uẩn. Giá trị lịch sử của một con người không chỉ ảnh hưởng đến tự thân mà dư âm giá trị lịch sử của con người đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến muôn người khác từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và quả thật, Vạn Hạnh Thiền sư là người có công rất lớn trong việc khai sáng ra triều đại nhà Lý thì Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên thực thi tinh thần Vạn Hạnh bằng tất cả sự thể nhập "Đạo Pháp - Dân tộc" trong một thực thể duy nhất.
09/04/2013(Xem: 16617)
Có lần trong tù, đói quá, Thầy Quảng Độ nằm mơ thấy được nhà bếp cho một cái bánh bao. Ăn xong thấy bụng căng thẳng, no nê, rất hạnh phúc. Sự thật là đêm ấy, trước khi đi ngủ, vì đói quá nên thấy uống nước cho đầy bụng dễ ngủ. Và Thầy đã đái dầm ra quần. Sáng hôm đó Thầy có làm một bài thơ.