Lời dạy của Ôn

14/03/201617:54(Xem: 9047)
Lời dạy của Ôn

 
HT Huyen Ton (10)

Lời dạy của Ôn

 

Con xin nguyện đời đời kiếp kiếp quy y Phật,

Con xin nguyện đời đời kiếp kiếp quy y Pháp,

Con xin nguyện đời đời kiếp kiếp quy y Tăng,

Đó là lời khấn nguyện mỗi buổi sáng, hằng ngày của con khi thắp nhang trên bàn thờ Phật hay bất cứ nơi nào, lúc nào khi con đảnh lễ Phật. Những lời khấn nguyện này con đã được học từ lời dạy quý báu của Ôn.

Mười mấy năm nay, kể từ ngày vào Tu Viện Quảng Đức sinh hoạt, con được gặp Ôn trong các dịp lễ lạc, các công việc Phật sự của Chùa, của Giáo hội và phúc duyên cho con được nghe Ôn giảng Pháp ở các khóa An cư, các khóa Tu học Phật Pháp Úc Châu, các ngày thọ Bát quan trai v.v… Để rồi Ôn đã giúp con vun bồi thêm tư lương về Giáo Pháp của Phật, giúp con trau giồi kiến thức về nhân sinh quan của Phật giáo, giúp con nhận thức sâu sắc và chính chắn về cuộc sống, con người v..v…Và đặc biệt chị em và gia đình con hội đủ duyên lành nên đã được Ôn đến chứng minh, gia tâm chú nguyện cho Hương linh của Ba con được sớm thác sanh về cõi giới an lành khi Ba con qua đời, cũng như lễ chung thất của Ba con tại Tu Viện Quảng Đức. “Ơn sâu nghĩa nặng” là điều Ba Mạ con dạy anh chị em con từ nhỏ, câu thành ngữ này đã ăn sâu vào trong máu huyết của con cho nên con luôn khắc cốt ghi tâm những gì con nhận được  từ Ôn.

“Hoang mang giữa quãng đêm trường

Nhờ đèn Tam Bảo soi đường chúng sinh

Mênh mông bể khổ linh đinh

Nương thuyền Tam Bảo chúng sinh thoát nàn”

 

Con từng được nghe quý Thầy, quý Cô dạy, sanh ra đời làm người đã khó, gặp Phật Pháp còn khó hơn, nhưng con thiết nghĩ nghe được lời dạy và thực hành lời dạy đó cho đúng chánh pháp lại càng khó hơn nữa. Ôn chính là một trong những Vị Ân sư đã và đang dìu dắt, chỉ lối cho con trên con đường tu dưỡng đời sống tâm linh bản thân mình. Con thật sự không đủ vốn từ để diễn đạt cho hết những gì con biết về Ôn và cảm nhận về Ôn, con chỉ xin mượn lời ca để tỏ lòng thành kính tri ân, biết ơn sâu sắc đến Ôn:

“Lời Thầy như nắng ban mai

Cho con thức giấc mộng dài trần gian

Lời Thầy như gió trên ngàn

Cho con bay giữa vô vàn khổ đau

Thầy đi trước, con bước sau

Vang tiếng chánh pháp nguyện màu sắc son

Thầy đi trước, con bước sau

Vàng thiêng chánh pháp, sắc son một lòng”

Con nguyện luôn mãi mãi là người con Phật chân chính hiếu đạo như Ôn hằng trông mong nơi hàng Phật tử chúng con. Con xin nguyện cầu mười phương chư Phật từ bi gia hộ cho Ôn được thiệt nhiều sức khỏe để tiếp tục dẫn dắt chúng con trên con đường giải thoát và giác ngộ.

 

Melbourne Mùng 6 tháng 2 năm Bính Thân

Đệ tử Quảng Hương

(Xem bài cùng tác giả)

Ý kiến bạn đọc
14/03/201621:56
Khách
Con cung kính đảnh lễ Ngài . Biết Ngài hơn 30 năm nhưng vẫn thấy Ngài không thay đổi. Thẳng thắn, chân thật, và vẫn còn Nói Lập Tức khi thấy việc Bất Bình.... smile emoticon .... Con vẫn thích nhất là những buổi sáng sớm cùng Ngài tụng Chú Lăng Nghiêm đến đoạn Tán Phật, Ngài đánh trống nghe vang đến 33 tầng trời... Rồi những buổi Ngài lái xe đưa Thầy Trò đi ăn trưa tại nhà hàng chay 5 sao tại Melbourne, và Ngài nhất định đòi trả tiền. Những kỷ niệm một đời , một kiếp nhân sinh.... Con vẫn luôn ghi nhớ lời Ngài dặn: Cố Tu nhé....
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/11/2014(Xem: 7893)
Hòa Thượng Thích Tâm Hướng (1923 – 1997) Hoà thượng Tâm Hướng Pháp danh Nguyên Nguyện, hiệu Huyền Luận, thế danh Dương Xuân Đệ, đời thứ 44 dòng thiền Lâm Tế. Ngài sinh ngày 24 tháng 11 năm Quý Hợi (31/12/1923), tại làng Hương Cần, xã Hương Toàn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế trong một gia đình thâm tín Tam Bảo. Thân phụ là cụ Dương Xuân Ngô và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Đặng.
01/10/2014(Xem: 17167)
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới, do TT Thích Nguyên Tạng biên soạn từ 1990
01/10/2014(Xem: 10102)
Pháp danh : Trừng Thành Pháp tự : Chí Thông, Pháp hiệu : Thích Giác Tiên. Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42 Thế danh : Ngài họ Nguyễn Duy húy là Quyển. Thọ sanh năm Canh thìn, niên hiệu Tự Đức đời thứ 33 (1879). Chánh quán làng Giạ Lệ Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1883, lên bốn tuổi thì song thân đều mất. Ngài được ông bà bác đồng tộc đem về nuôi dưỡng. Nhờ bẩm chất thông minh nên thân thuộc cho theo Nho học một thời gian. Nhận thấy giáo lý Phật đà mới là con đường hướng đến cảnh giải thoát ; từ đó, ngài xin với thân thuộc xuất gia đầu Phật. Năm 1890, được 11 tuổi, ngài cầu thọ giáo với tổ Tâm Tịnh.
01/10/2014(Xem: 10341)
Phật Giáo Việt Nam thời cận đại đã viết lên trang lịch sử bằng máu, xương của Chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử. Dòng lịch sử ấy đã nêu cao tấm gương hy sinh bất khuất trước những đàn áp, bạo lực, súng đạn, nhà tù và lựu đạn. Phải chăng đây là một chặng đường lịch sử oai hùng mà Phật Giáo Việt Nam đã biểu tỏ tinh thần Đại hùng, Đại lực, Đại Từ Bi để vực dậy một nền văn hóa đã bị sụp đổ bởi một chế độ tha hóa, ngoại lai xâm nhập vào quê hương Việt Nam.
01/10/2014(Xem: 11963)
Trên dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam thời cận đại của những thập niên 30-40 có bậc Tôn túc của Ni giới xuất hiện, đồng hành với chư Tăng để xiển dương Phật pháp, đào tạo Tăng tài, xây dựng tự viện, giữ gìn giềng mối đạo pháp được bền vững. Bậc Tôn túc của Ni giới ấy là SB Diệu Không, người đã hy hiến cả đời mình cho đời lẫn đạo, SB đã lưu lại cho hậu thế một hành trạng sáng ngời cho đàn hậu học noi gương.
09/09/2014(Xem: 16227)
Hòa Thượng Thích Giác Thông, tục danh Đổ Văn Bé, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1939 tại Mỹ Hòa Hưng, Huyện Châu Thành, An Giang, Long Xuyên. Trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân Phụ là Cụ Ông Đổ Nhựt Thăng, Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn Thị Khiên, Hòa Thuợng là người anh cả trong số 6 anh em ( 3 trai, 3 gái ), được nuôi dưỡng trong một gia đình nông dân hiền lành, có truyền thống đạo đức, nên từ nhỏ Hòa Thượng đã là người sớm có tư chất hiền lương, có tâm thương người mến vật, là con có hiếu với ông bà cha mẹ.
06/09/2014(Xem: 10681)
Không biết đây là lá thư thứ mấy con đã viết mà không bao giờ gởi đi, bởi vì con biết thư có vượt ngàn dặm trùng dương bay về thì Thầy cũng vẫn không cầm đọc được, chứng bịnh Parkinson đã làm cho hai tay Thầy run nhiều quá nhưng nhân mùa Phật Đản nhớ đến Thầy, con lại muốn viết. Thời gian sau này, con vẫn theo dõi thường xuyên sức khỏe của Thầy, con buồn vô cùng, Thầy đã bị bịnh, không thoát khỏi qui luật sinh, lão, bịnh mà con thì ở xa quá, không thăm viếng cận kề Thầy được như ngày xưa nữa !
05/09/2014(Xem: 23480)
Còn đây của báu trong nhà Không là ngọc bảo, không là hoàng kim Bình thường chiếc áo tràng lam Mà sao quý vượt muôn ngàn ngọc châu! Những năm cầu thực dãi dầu Sớm mai tụng niệm, đêm thâu mật trì Dòng đời mãi cuốn con đi Về nương chốn tịnh có Thầy, có Ôn… Kinh truyền ban phát khuyên lơn
02/09/2014(Xem: 14874)
“Đầu lông trùm cả càn khôn thảy Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong” Thiền sư Khánh Hỷ (1067–1142) thuộc dòng thứ 14, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, huyện Long Biên, thuộc dòng tịnh hạnh, từng được vua Lý Thần Tông phong chức Tăng Thống. Sách Thiền Uyển Tập Anh (Anh Tú Vườn Thiền) ghi lại cuộc đối thoại giữa ngài với Thiền Sư Bản Tịch ở chùa Chúc Thánh, nhân dịp ngài cùng với thiền sư đến nhà đàn việt để thọ trai, trên đường đi sư hỏi: Thế nào là ý chỉ của Tổ Sư? Sao thầy lại nghe theo nhân gian làm những chuyện đồng cốt mê hoặc? Bản Tịch đáp: Lời nói ấy đâu phải là không do đồng cốt giáng thần? Sư thưa: Chẳng phải là Hòa Thượng đùa bỡn con hay sao? Bản Tịch đáp: Ta chẳng hề đùa bỡn tí nào! Sư không nắm được ý chỉ của thầy bèn cáo biệt ra đi.
12/08/2014(Xem: 19897)
Cô là 1 nữ sinh trẻ nhất của Sài Gòn đã anh dũng ngã xuống trước họng súng của quân thù tàn bạo trong 1 buổi sáng mùa thu năm 1963 trước cửa chợ Bến Thành, với hàng ngàn sinh viên, học sinh và nhân dân phật tử trước cửa chợ Bến Thành. Và ngay sau đó, Thành hội sinh viên học sinh Sài Gòn đã quyên góp vận động ủng hộ xây bức tượng thờ người nữ học sinh anh hùng tuổi 15 đặt ngay công trường Diên Hồng trước cửa chính chợ Bến Thành ngày nay với sự chứng kiến của hàng ngàn người dân, phật tử thành phố và sinh viên, học sinh.