Niệm Ân Hòa Thượng

14/03/201606:08(Xem: 10316)
Niệm Ân Hòa Thượng



hT Huyen Ton

NIỆM ÂN HÒA THƯỢNG


 

Thời gian lẳng lặng trôi… từng giây, từng phút, từng giờ… tưởng chừng như chậm lắm, thế mà thoắt một cái, chợt nhìn lại đã 37 năm rồi kể từ ngày con đến Úc và nhận nơi đây như là quê hương thứ hai của mình. Con nhớ có một hôm, người bạn đưa vợ chồng con đến thăm một ngôi chùa nhỏ, lúc đó con mới đến Úc khoảng hơn 1 năm và vừa dọn về sống tại Richmond, hình như ngôi chùa nhỏ cũng nằm ở vùng kề cận. Với con lúc đó mọi nơi đều xa lạ nên không có một ý niệm gì về nơi chốn. Chúng con lễ Phật và được một vị Thầy tuổi độ khoảng 50 tiếp chuyện, con nghe người bạn giới thiệu: “Đây là Thầy Thích Huyền Tôn.” Và Thầy là vị Thầy đầu tiên con được biết trên đất Úc. Hôm đó vì bận con nhỏ nên chỉ có mình chồng con hầu chuyện với Thầy. Sau một hồi hàn huyên chúng con xin cáo từ. Thế rồi độ khoảng vài tuần sau, Thầy đã đến thăm chúng con tại căn flat thuộc chung cư của chính phủ. Mở cửa ra thấy Thầy con vừa ngạc nhiên, vừa cảm động. Sau lần thăm viếng đó của Thầy, lời hứa thỉnh thoảng sẽ đến thăm Thầy, chúng con đã không giữ trọn, lẽ vì phương tiện di chuyển chưa có, lại không rành nơi chốn, hơn nữa phải bôn ba lo cho cuộc sống mới trên xứ người, đồng thời giúp đỡ người thân nơi quê nhà nên chúng con chẳng có thời gian đi đây đi đó. Sau này con có nghe Thầy di chuyển về nơi khác, lại càng không biết nơi đó ở đâu, nên đã quên đi vị Thầy đầu tiên được gặp.

Mãi đến hơn 20 năm sau, khi con về sinh hoạt tại Tu Viện Quảng Đức, con mới gặp lại vị Thầy năm xưa, bây giờ là một Hòa Thượng uy nghi đức độ. Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, hiện nay Trụ Trì Chùa Bảo Vương và là Tăng Giáo Trưởng của GHPGVNTNHN UĐL-TTL.

Qua 16 năm sinh hoạt tại TV Quảng Đức con được gặp Hòa Thượng nhiều lần, được nghe, được thấy và hiểu về Hòa Thượng nhiều hơn. Biết được Ngài là một bậc chân tu thạc đức uyên thâm kinh sử, lúc nào cũng quan tâm đến hàng hậu học, sẵn sàng truyền trao những sở kiến của Ngài về Giáo lý Phật cho cả hàng xuất gia lẫn tại gia. Đôi khi con thầm nghĩ, phải chi thời xưa cũ, ý thức về Đạo trong con rõ ràng hơn…; nếu con theo từng nơi chốn Hòa Thượng đến, đi thì có lẽ giờ đây con cũng đã lãnh hội được một phần nào tri kiến của Hòa Thượng, bởi tánh của Hòa Thượng rất dung dị dễ gần gũi. Âu có lẽ cũng do nghiệp con nặng chưa đủ phước để được làm đệ tử của Hòa Thượng.

Trong buổi Thiền Trà Đạo Tình cuối Khóa An Cư Kiết Đông năm 2011 tại TV Quảng Đức, con được nghe Thầy Đồng Thanh ngâm bài thơ Tuổi Tức Từ do Hòa Thượng sáng tác. Giọng của Thầy trầm ấm, xen lẫn chút nghẹn ngào:

Ngày con mười ba tuổi,                                 
 Mẹ vĩnh biệt con rồi!
Qua bảy năm đuổi quạ,
 Đời con giờ cút côi!
Tức từ, từ độ ấy,
Lòng trĩu nặng chia phôi
Dù hơn trăm Huynh đệ
Mà vẫn thấy đơn côi
Núi rừng chỉ có gió
Đưa tiếng vượn bồi hồi
Mười năm trên sơn lãnh
Ngày nghỉ sáu giờ thôi
Guốc dép không được dụng
Chỉ riêng việc núi đồi
Áo quần vải thô xấu
Trông hoen hoét lọ nồi
Tuổi thơ kham nhẫn quá
Hành điệu nào thảnh thơi!
Lo kệ kinh lễ sám
Đốn cũi chặt cây sồi,
Trồng khoai lang, khoai mỡ…
Tắm mát với mồ hôi
Lấy đá trong sườn núi
Đẵn gỗ lại hầm vôi
Sớm khuya ba thời tụng…
Là nẻo thoát luân hồi
Bình minh tô cháo nhỏ
Quá đường chén cơm đôi
Hoàng hôn ăn rau núi
Cơ thân tạm bổ bồi
Ngày học kinh bốn tiếng
Dạy chúng trẻ mồ côi
Nam Mô, Nam Mô Phật!
Tuổi tức từ của tôi.


Giọng ngâm vừa chấm dứt, tiếng vỗ tay vang dội, nước mắt con cũng đong đầy, cảm thương cho HT cũng như đa số những chú điệu với lứa tuổi ngây thơ mà phải chịu bao điều cơ cực trong những tháng năm hành điệu. Nhưng có phải chăng, nhờ trải qua những gian khổ ấy mà Hòa Thượng cũng như quý Thầy mới đủ nghị lực để có thể vượt qua những thử thách của cuộc đời với nhiều chông gai, thăng trầm trôi nổi hầu có thể trở thành bậc “Long Trượng Thiền Môn” như Hòa Thượng hôm nay. Những gì HT truyền trao cho hàng hậu học, từng lời, từng chữ đều là kết tụ từ sự khó khăn, kiên cường và nhẫn nại. Sự hy sinh của quý Ngài thật vô cùng, ân nghĩa đó biết nói sao cho tận. Chúng con chỉ biết tâm thành đảnh lễ tiếp nhận, mong sao hiểu và thực hành được một phần nào lời dạy của Hòa Thượng để không phụ lòng Ngài.

Tức Từ từ tuổi mười ba
Trải bao gian khổ trôi qua cuộc đời
Vững tâm quyết chí không rời
Lời kinh Phật dạy để đời noi gương
Giờ đây tuổi hạc phong sương
Thong dong tự tại chẳng vương uế trần
Lời ngay thẳng tánh ân cần
Bao nhiêu tri thức dần dần truyền trao
Kiến tri tỏ ngộ chép sao
Lưu đời hậu thế ngày nao tỏ tường
Công Ngài quả thật khôn lường
Tăng Ni, Phật tử kính thương tỏ bày
Nhân ngày Khánh tuế hôm nay
Bách Niên Trường Thọ” lời này kính dâng.


Lòng thành kính dâng lên
Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng Thích Huyền Tôn.


Melbourne, Xuân Bính Thân 2016

Đệ tử Thanh Phi


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/02/2011(Xem: 10146)
Lễ huý nhật Ôn Trí Thủ năm 2005 tại Quảng Hương Già Lam
19/02/2011(Xem: 8282)
Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, đệ tử của Đệ Lục Tổ Sư Thiên Ấn Tự, Hòa Thượng Tăng Cang Thích Chơn Trung, thế danh Nguyễn Thái Long, pháp danh Như Kế, pháp tự Giải Tích, pháp hiệu Huyền Tôn. Ngài sinh năm Mậu Thìn (1928.Việt lịch: 4807) tại làng Châu Nhai, Huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Thân phụ, bán thế xuất gia là Đại Sư thượng Như hạ Quý (1874-1942), Thân mẫu là Cụ bà Thái Thị Túc, pháp danh Như Chỉnh, tự Giải Lý (1891-1945).
13/02/2011(Xem: 26615)
Ca Sĩ Gia Huy, Tên thật của Gia Huy là Đặng Quốc Hung. Anh đến Montreal, Canada vào năm 1991 để cùng đoàn tụ với gia đình. Anh hát lần đầu tiên tại vũ trường Chateau Du Parc tại Montreal. Lúc đó, anh hát với ban nhạc Phạm Mạnh Cường để trình bày những tác phẩm như "Máu Nhuộm Bãi Thượng Hải", "Mười Năm Tình Cũ" và "Lambada". Ngay sau lần trình diễn đầu tiên, Gia Huy trở thành một ấn tượng của dân chúng tại Montreal. Anh bắt đầu hát cho một số vũ trường tại địa phương như Bistro Dore, Miss Sai Gòn, và Đêm Sai Gòn. Tuy nhiên, mục đích của Gia Huy là nổi danh ngoài Canada và khuếch trương số khán thính giả đi khắp thế giới.
30/01/2011(Xem: 9419)
Hòa Thượng Thích Như Điển - Đệ Nhị Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Âu Châu - Phương Trượng Chùa Viên Giác, Hannover, Đức Quốc
14/01/2011(Xem: 9615)
Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1931 tức ngày 7 tháng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần. Thầy xuất gia năm 16 tuổi (1947) và thọ giới tỳ kheo năm 1952. Bổn sư của Thầy là Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nguyên, Viện chủ Tổ Đình Tây Thiên (Huế).
07/01/2011(Xem: 10186)
Ông vua đầu tiên của nhà Trần và cũng là một thiền sư cư sỹ, Trần Cảnh (Trần Thái Tông) (1218-1277) đã để lại một sự nghiệp chính trị, một dòng văn học bất hủ, đến bây giờ vẫn mãi là kim chỉ nam, ngọn đuốc soi đường trong đêm dài tăm tối, cho những ai tìm phương vượt thoát, lộ trình cho những ai muốn đưa dân tộc tìm tới đỉnh cao của nhân bản và an lạc.
05/01/2011(Xem: 9409)
Về việc Hòa Thượng Đôn Hậu lên núi, ra Bắc trong vụ Tết Mậu Thân được thầy Trí Tựu, Trú Trì chùa Linh Mụ thuật lại như sau: (lúc 12:00 giờ trưa, ngày 12-3-2009 tại chùa Linh Mụ) Vào khoảng quá nửa đêm tối Mồng một Tết Mậu Thân, có một phái đoàn gồm quân nhân và người mặc thường phục đến thăm Ôn. Ôn đang bị bệnh, bệnh suyễn và xuất huyết dạ dày. Thầy ngồi đàng xa. Thầy Trí Lưu, thân phụ của thầy Trí Siêu Lê Mạnh Thát, lúc đó là Tri Sự chùa Linh Mụ, ngồi gần Ôn. Họ mời Ôn về Huế họp. Ôn từ chối nói đau không đi được. Họ nói có người đưa Ôn đi. Sau đó người ta gánh Ôn đi trên một chiếc võng, từ chùa Linh Mụ, không về Huế mà rẽ về Chợ Thông thuộc làng An Ninh Hạ, đến La Chữ. Ban ngày núp, nghỉ, ban đêm đi. Sau một tháng đến Seopon giáp giới Lào. Máy bay trực thăng bay trên đầu mà không bắn. Trên đường đi, thiếu lương thực, bị hạm đội Mỹ pháo kích. Nhiều người bị chết vì đói và sốt rét. (Được kể lại sau 1975). Rồi sau đó từ Huế ra Hà Nội mất hết 4 tháng, đi theo đường Mòn Hồ Chí Minh đến
30/12/2010(Xem: 9900)
Nguyễn Du (1765-1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ, Nam Hải Điếu Đồ, sinh trưởng trong gia đình phong kiến quý tộc có nhiều danh vọng, quê gốc ở làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Cha và anh của ông giữ những chức vụ quan trọng trong phủ chúa Trịnh. Thời trẻ ông tập ấm một chức quan võ nhỏ của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Năm 1787, Tây Sơn ra Bắc diệt Trịnh, ông bắt đầu thời kỳ “Thập tải phong trần” (Mười năm gió bụi). Sau ông phục vụ nhà Nguyễn, làm đến Hữu Tham tri Bộ Lễ, từng được cử làm chánh sứ đi sứ Trung Quốc.
30/12/2010(Xem: 8340)
Viết về cụ Nguyễn Du mà chúng ta không nói đến lòng thương vô hạn của cụ đối với chính mình đối với tha nhân, đối với xã hội thì đó là một vấn đề thiếu sót; viết về Nguyễn Du mà không nói đến Phật giáo thì đó cũng là một thiếu sót quang trọng, vì toàn bộ sự nghiệp văn thơ của cụ đều phát xuất từ hai quan điểm này để từ đó cụ gởi gắm tâm sự của cụ lại cho người hậu thế.
27/12/2010(Xem: 8535)
Vị thầy người Nhật của tôi đã ra đi năm ngoái, quá trẻ, quá sớm. Bà chỉ mới năm mươi bốn tuổi, và không có ai để truyền thừa Pháp. Bà chỉ có năm người đệ tử sống cùng bà trong những năm gần đây. Tôi, năm mươi sáu tuổi, nhưng lại là đệ tử mới nhất của bà, mà lại là nam đệ tử. Tôi ở với một nhóm nhỏ đệ tử người Tây phương chỉ mới được mười năm nay, trong khi người nữ đệ tử trẻ tuổi nhất cũng đã có mười lăm năm theo học với bà. Do vị thế ưu tiên của việc “sống lâu lên lão làng” trong tăng đoàn nhỏ bé của chúng tôi, mà các vị nữ đệ tử trẻ này tha hồ chế ngạo cái đầu không tóc, và việc gia nhập tăng chúng muộn màng của tôi. Tôi không màng điều đó chút nào, vì từ những ngày đầu, tôi đã rất hạnh phúc được thân cận “roshi” của tôi, với lòng tin tưởng rằng sự gần gủi, tiếp xúc hằng ngày với bà có thể giúp tôi đi đến ngưỡng cửa tiếp cận tâm linh, nơi ma