Niệm Ân Hòa Thượng

14/03/201606:08(Xem: 8957)
Niệm Ân Hòa Thượng



hT Huyen Ton

NIỆM ÂN HÒA THƯỢNG


 

Thời gian lẳng lặng trôi… từng giây, từng phút, từng giờ… tưởng chừng như chậm lắm, thế mà thoắt một cái, chợt nhìn lại đã 37 năm rồi kể từ ngày con đến Úc và nhận nơi đây như là quê hương thứ hai của mình. Con nhớ có một hôm, người bạn đưa vợ chồng con đến thăm một ngôi chùa nhỏ, lúc đó con mới đến Úc khoảng hơn 1 năm và vừa dọn về sống tại Richmond, hình như ngôi chùa nhỏ cũng nằm ở vùng kề cận. Với con lúc đó mọi nơi đều xa lạ nên không có một ý niệm gì về nơi chốn. Chúng con lễ Phật và được một vị Thầy tuổi độ khoảng 50 tiếp chuyện, con nghe người bạn giới thiệu: “Đây là Thầy Thích Huyền Tôn.” Và Thầy là vị Thầy đầu tiên con được biết trên đất Úc. Hôm đó vì bận con nhỏ nên chỉ có mình chồng con hầu chuyện với Thầy. Sau một hồi hàn huyên chúng con xin cáo từ. Thế rồi độ khoảng vài tuần sau, Thầy đã đến thăm chúng con tại căn flat thuộc chung cư của chính phủ. Mở cửa ra thấy Thầy con vừa ngạc nhiên, vừa cảm động. Sau lần thăm viếng đó của Thầy, lời hứa thỉnh thoảng sẽ đến thăm Thầy, chúng con đã không giữ trọn, lẽ vì phương tiện di chuyển chưa có, lại không rành nơi chốn, hơn nữa phải bôn ba lo cho cuộc sống mới trên xứ người, đồng thời giúp đỡ người thân nơi quê nhà nên chúng con chẳng có thời gian đi đây đi đó. Sau này con có nghe Thầy di chuyển về nơi khác, lại càng không biết nơi đó ở đâu, nên đã quên đi vị Thầy đầu tiên được gặp.

Mãi đến hơn 20 năm sau, khi con về sinh hoạt tại Tu Viện Quảng Đức, con mới gặp lại vị Thầy năm xưa, bây giờ là một Hòa Thượng uy nghi đức độ. Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, hiện nay Trụ Trì Chùa Bảo Vương và là Tăng Giáo Trưởng của GHPGVNTNHN UĐL-TTL.

Qua 16 năm sinh hoạt tại TV Quảng Đức con được gặp Hòa Thượng nhiều lần, được nghe, được thấy và hiểu về Hòa Thượng nhiều hơn. Biết được Ngài là một bậc chân tu thạc đức uyên thâm kinh sử, lúc nào cũng quan tâm đến hàng hậu học, sẵn sàng truyền trao những sở kiến của Ngài về Giáo lý Phật cho cả hàng xuất gia lẫn tại gia. Đôi khi con thầm nghĩ, phải chi thời xưa cũ, ý thức về Đạo trong con rõ ràng hơn…; nếu con theo từng nơi chốn Hòa Thượng đến, đi thì có lẽ giờ đây con cũng đã lãnh hội được một phần nào tri kiến của Hòa Thượng, bởi tánh của Hòa Thượng rất dung dị dễ gần gũi. Âu có lẽ cũng do nghiệp con nặng chưa đủ phước để được làm đệ tử của Hòa Thượng.

Trong buổi Thiền Trà Đạo Tình cuối Khóa An Cư Kiết Đông năm 2011 tại TV Quảng Đức, con được nghe Thầy Đồng Thanh ngâm bài thơ Tuổi Tức Từ do Hòa Thượng sáng tác. Giọng của Thầy trầm ấm, xen lẫn chút nghẹn ngào:

Ngày con mười ba tuổi,                                 
 Mẹ vĩnh biệt con rồi!
Qua bảy năm đuổi quạ,
 Đời con giờ cút côi!
Tức từ, từ độ ấy,
Lòng trĩu nặng chia phôi
Dù hơn trăm Huynh đệ
Mà vẫn thấy đơn côi
Núi rừng chỉ có gió
Đưa tiếng vượn bồi hồi
Mười năm trên sơn lãnh
Ngày nghỉ sáu giờ thôi
Guốc dép không được dụng
Chỉ riêng việc núi đồi
Áo quần vải thô xấu
Trông hoen hoét lọ nồi
Tuổi thơ kham nhẫn quá
Hành điệu nào thảnh thơi!
Lo kệ kinh lễ sám
Đốn cũi chặt cây sồi,
Trồng khoai lang, khoai mỡ…
Tắm mát với mồ hôi
Lấy đá trong sườn núi
Đẵn gỗ lại hầm vôi
Sớm khuya ba thời tụng…
Là nẻo thoát luân hồi
Bình minh tô cháo nhỏ
Quá đường chén cơm đôi
Hoàng hôn ăn rau núi
Cơ thân tạm bổ bồi
Ngày học kinh bốn tiếng
Dạy chúng trẻ mồ côi
Nam Mô, Nam Mô Phật!
Tuổi tức từ của tôi.


Giọng ngâm vừa chấm dứt, tiếng vỗ tay vang dội, nước mắt con cũng đong đầy, cảm thương cho HT cũng như đa số những chú điệu với lứa tuổi ngây thơ mà phải chịu bao điều cơ cực trong những tháng năm hành điệu. Nhưng có phải chăng, nhờ trải qua những gian khổ ấy mà Hòa Thượng cũng như quý Thầy mới đủ nghị lực để có thể vượt qua những thử thách của cuộc đời với nhiều chông gai, thăng trầm trôi nổi hầu có thể trở thành bậc “Long Trượng Thiền Môn” như Hòa Thượng hôm nay. Những gì HT truyền trao cho hàng hậu học, từng lời, từng chữ đều là kết tụ từ sự khó khăn, kiên cường và nhẫn nại. Sự hy sinh của quý Ngài thật vô cùng, ân nghĩa đó biết nói sao cho tận. Chúng con chỉ biết tâm thành đảnh lễ tiếp nhận, mong sao hiểu và thực hành được một phần nào lời dạy của Hòa Thượng để không phụ lòng Ngài.

Tức Từ từ tuổi mười ba
Trải bao gian khổ trôi qua cuộc đời
Vững tâm quyết chí không rời
Lời kinh Phật dạy để đời noi gương
Giờ đây tuổi hạc phong sương
Thong dong tự tại chẳng vương uế trần
Lời ngay thẳng tánh ân cần
Bao nhiêu tri thức dần dần truyền trao
Kiến tri tỏ ngộ chép sao
Lưu đời hậu thế ngày nao tỏ tường
Công Ngài quả thật khôn lường
Tăng Ni, Phật tử kính thương tỏ bày
Nhân ngày Khánh tuế hôm nay
Bách Niên Trường Thọ” lời này kính dâng.


Lòng thành kính dâng lên
Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng Thích Huyền Tôn.


Melbourne, Xuân Bính Thân 2016

Đệ tử Thanh Phi


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/10/2019(Xem: 26812)
Hòa thượng Giác Khang thế danh Tô Văn Vinh sinh năm 1941 tại tỉnh Bạc Liêu. Thân sinh là cụ ông Tô Khanh. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Vén. Gia đình có 5 trai, 5 gái. Hòa thượng là con thứ 8 trong gia đình. Hòa thượng tốt nghiệp Tú Tài và học Cao đẳng Sư phạm. Ra trường đi dạy học ở Cái Côn – Cần Thơ.
20/10/2019(Xem: 5697)
Hòa Thượng Thích Huệ Quang (1927 - 2009) - Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Chứng minh Ban trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hòa - Huynh Trưởng Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương - Viện chủ Chùa Đông Phước, Phước Long, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
20/10/2019(Xem: 7692)
Hoà thượng Thượng HOÀN Hạ QUAN, thế danh Phạm Ngọc Thơ. Pháp danh NHƯ CỤ THIỆN. Pháp tự GIẢI TOÀN NĂNG. Pháp hiệu THÍCH HOÀN QUAN. Sinh ngày 16-09-1928 (Năm Mậu Thìn) tại làng Phước Long, nay là thôn Hoà Bình xã Nghĩa Hoà huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Song thân của Ngài là Phạm Công Phạm Khánh Lâm và Cụ bà là Trần Thị Thưởng. Cụ Ông và Cụ bà đã hạ sinh được 6 người con, gồm 2 trai 4 gái, Ngài là người con thứ 5 trong gia đình.
20/10/2019(Xem: 4801)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc. Năm 21 tuổi (1916) nhận thấy cảnh thế phù du, cuộc đời là vô thường, giả tạm, Ngài quy y thọ giới tại chùa Cảnh Tiên. Năm 22 tuổi (1917) Ngài được nhập chúng tu học ở chùa Quang Lộc trong tỉnh, được ban pháp danh Chơn Húy. Sẵn có căn bản Hán học vững chắc, Ngài thâm nhập kinh tạng rất mau chóng. Ngài lần lượt thọ giới Sa Di và nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát với pháp hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Ngài trở thành một vị giảng sư Phật học nổi tiếng.
20/10/2019(Xem: 8049)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc. Năm 21 tuổi (1916) nhận thấy cảnh thế phù du, cuộc đời là vô thường, giả tạm, Ngài quy y thọ giới tại chùa Cảnh Tiên. Năm 22 tuổi (1917) Ngài được nhập chúng tu học ở chùa Quang Lộc trong tỉnh, được ban pháp danh Chơn Húy. Sẵn có căn bản Hán học vững chắc, Ngài thâm nhập kinh tạng rất mau chóng. Ngài lần lượt thọ giới Sa Di và nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát với pháp hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Ngài trở thành một vị giảng sư Phật học nổi tiếng.
20/10/2019(Xem: 7566)
Cố HT. Bửu Chơn tên thật Phạm Văn Tông, sinh ngày 25/10/1914, tại làng An Hội ‒ Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Ngài là con của cụ ông Phạm Văn Dư và cụ bà Lê Thị Dương. Tuổi thơ, ngài học ở trường làng, trường Tây, nhờ siêng năng, chăm học nên đã đậu bằng Preme. Năm 1930, ngài sang Nam Vang làm công chức trong cơ quan Việt Nha địa chính.
20/10/2019(Xem: 6460)
Hòa thượng Phước Hậu, pháp húy Trừng Thịnh, pháp tự Như Trung, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 42. Ngài thế danh Lê Văn Gia, sinh năm Bính Dần(1866), nhằm Tự Đức thứ 15, tại xã An Tiêm, huyện Đồng Quan, tỉnh Thái Bình.
20/10/2019(Xem: 8242)
Hòa thượng Pháp húy Ngộ Trí, đạo hiệu Thích Huệ Hưng, thế danh Nguyễn Thành Chẩm, thuộc dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 39, là đệ tử Sư tổ Vạn An (Sa Đéc). Ngài sinh năm Đinh Tỵ (1917) tại làng Mỹ Thọ, quận Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là cụ Nguyễn Minh Biện, pháp danh Minh Chiếu, thân mẫu là cụ Trần Thị Mậu, pháp danh Diệu Thiệt. Năm 62 tuổi, cụ bà xuất gia thọ giới Sa di ni.
20/10/2019(Xem: 5733)
Quốc sư tên thật là Nguyễn Tấn Giao, sinh năm Kỷ Tỵ (1869) tại làng Phú Thành, phủ An Nhơn, nay là ấp Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ Nguyễn Chánh Niệm, tự Hòa Bình, thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Lãnh, ông bà đều là những Phật tửthuần thành. Năm 12 tuổi (1881), Ngài được cha mẹ cho phép xuất giatại chùa Thập Tháp, thọ giới với Hòa thượng Chí Tịnh (Minh Lý) được ban pháp hiệu là Phước Huệ. Một thời gian sau, Ngài được Bổn sư cho tới chùa Tịnh Lâm ở huyện Phù Cát, Bình Định theo học với Hòa thượng chùa Châu Long là Ngài Từ Mẫn. Năm 19 tuổi, Ngài trở về giữ chức Thủ khố của Tổ đình Thập Tháp. Năm 20 tuổi Ngài vào chùa Từ Quang ở Đá Trắng huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên theo học với Hòa thượng Luật Truyền (Pháp Chuyên). Ngài thọ đại giới năm 1889 và đắc pháp năm 1892 với Hòa thượng Luật Truyền.
20/10/2019(Xem: 6567)
Hòa Thượng Thích Mật Thể (1912 - 1961) Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.