Hòa Thượng Thích Hoàng Thu

10/04/201311:21(Xem: 9344)
Hòa Thượng Thích Hoàng Thu

tt-thichhoangthu_final2


(xem lớn hơn)

ThànhKính Tưởng Niệm
CỐ THƯỢNG TOẠ THÍCH HOÀNG THU
(1937-2008)

THÂN THẾ.

Ngài thế danh là Nguyễn Xuân pháp danh Thanh Phong pháp tự Hoàng Thu hiệu Như Nguyện. Sinh ngày 01/06/1937 tai thôn Phú Cấp xã Diên Phú huyện Diên Khánh tinh Khánh Hoà. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Ðối thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lẻo pháp danh Trừng Lan. Ngài là anh cả trong 4 anh em.

2. XUẤT GIA TU HỌC

Thượng Toạ được sinh ra trong một gia đình thuần nông chất phát, với truyền thống đời đời kính tin Tam Bảo. Lên 10 tuổi, Ngài đã quy hướng về Tam Bảo thọ nhận Tam Quy, Ngũ Giới với Hoà Thượng thượng Hải hạ Hoà hiệu Bảo Ðàn tại chùa Phú Phong thôn Phú Cấp xã Diên Phú huyện Diên Khánh. Dường như sẵn có túc duyên nên năm 17 tuổi, được sự cho phép của song thân, Ngài phát đại tâm xuất gia tu học với Hoà Thượng Bổn Sư.

Kể từ đó, Phật pháp có thêm một trang xuất trần thượng sĩ, một người hành đạo độ nhơn. Thượng Toạ sớm hôm kinh kệ tu thân, nuôi chí lớn lập thân hoá đạo. Trí vô sư ngày càng tăng trưởng để truyền ấn tổ đời đời.

Thật là:

Tuổi thơ nhập đạo

Chí lớn xuất trần

Tánh đồng chơn cắt ái từ thân

Lòng chánh tín xuất gia đầu Phật

Thế cho nên

Người đạo siêu một cõi

Pháp để lại muôn đời

Ðèn thiền thắp sáng mọi nơi

Aán Tổ tô son muôn thuở

Năm 1957 Thầy thọ Sa Di. Giới đàn được tổ chức tại Phật Học Viện Nha Trang do cố Hoà Thượng pháp hiệu Giác Nhiên làm đàn đầu.

Năm 1973 với hạnh nguyện thượng cầu hạ hóa đầy đủ oai nghi, xứng đáng làm pháp khí Ðại thừa. Ngài được Bổn Sư cho phép thọ Tỳ Kheo và bồ Tát giới tại giới đàn Phước Huệ được tổ chức tại Phật học viện Hải Ðức- Thành Phố Nha Trang do cố Hoà Thượng Thích Phúc Hộ làm Ðàn đầu.

Năm 1988 Ngài đã cầu Pháp với cố Hoà Thượng Thích Chách Kỷ tại chùa Thái Bình – thôn Bình Khánh – xã Diên Hoà – huyện Diên Khánh được Hoà Thượng ban cho Pháp hiệu Như Nguyện với bài kệ đắc Pháp:

Không trung nhựt tăng quang

Tâm tợ Bồ Ðề cảnh

Như pháp tấn tu hành

Nguyện thành Phật độ sanh.

Sau khi thọ giới và cầu pháp, sự tu học của Thượng Toạ càng tinh chuyên hơn.

Từ 1964 – 1966 Ngài đã nương vào cố Hoà Thượng Thích Hưng Từ cùng với chư Tăng tùng chúng tu học các trường hạ và các nơi như: Chùa Thiên Lộc, Nghĩa Trủng, Thiên Quang, Liên Hoa, Hoa Quang ở Vĩnh Xương. Chùa Thiên Bửu ở Ninh Hoà. Chùa Linh Sơn ở Vạn Ninh. Chùa Khánh Long ở Ba Ngòi………

HÀNH ÐẠO

Năm 1963, phong trào tranh đấu Phật giáo chống chinh quyền kỳ thị Ngô Ðình Diệm diễn ra ở khắp mọi nơi trên đất nước. Thượng Toạ được tỉnh Giáo hội đề cử lên Ðăclăk cùng vời một số quý thầy, hướng dẫn Phật tử đấu tranh vì sự tự do và công bằng cho tín ngưỡng Phật giáo.

Năm 1967 Giáo hội Tăng Già Diên Khánh đề cử Thượng Toạ về trụ trì chùa Long Quang, thôn Phú Hậu huyện Diên Khánh. Ngài hành đạo ở đây được một năm.

Năm 1968, thể theo nhu cầu tu học của Phật tử địa phương thôn 3 xã Diên Phú huyện Diên Khánh. Thượng Toạ được Giáo hội đưa về trụ trì Tổ đình Thiên Phước cho đến ngày nay.

Với bản tánh binh dị, chất phát, Ngài đã sống chan hoà với quần chúng nhân dân Phật tử tại địa phương. Tạo được niềm tin và lòng quy hướng về Tam Bảo với tất cả những ai có duyên được Ngài hoá độ.

Năm 1996, Ðể cầu nguyện cho quốc thái dân an, âm siêu dương thới. Thượng Tọa phát nguyện tổ chức trai đàn kỳ siêu bạt độ, khiến cho người người thêm tin tưởng pháp Phật nhiệm mầu mà tăng trưởng niềm tin Chánh pháp.

Vào ngày 16/4/1997 (10/3/Ðinh Sửu) nhận thấy ngôi Tổ đình trãi qua nhiều năm tháng nên xuống cấp trầm trọng và nhu cầu tu học của quần chúng Phật tử ngày càng đông hơn. Nên Thượng Tọa phát quảng đại nguyện trùng tu ngôi Già lam phạm vũ khang trang và oai nghiêm giữa một vùng quê an hoà bình lặng. Lễ đặt đá trùng tu có sự chứng minh của cố Hoà Thương Thích Trí Nghiêm.

Sống giữa dân quê còn nghèo nàn, quần chúng Phật tử còn lo nhiều cho cuộc mưu sinh. Một mình Ngài đã cưu mang tâm nguyện trùng tu. Không quản nắng mưa khổ nhọc. Chỉ mong sao ngôi Phạm vũ sớm hoàn thiện viên mãn. Tam Bảo không phụ tầm lòng thành. ngôi Già lam uy nghi tráng lệ vũng vàng toạ lạc giữa thôn 3 xã Diên Phú hôm nay là thành quả của biết bao ngày tháng lao tâm khổ tứ của Ngài.

p_0020

(xem tiếp)

THUẬN THẾ VÔ THƯỜNG

Vào năm 2006 Sau khi vào khám tại bệnh viện Hoà Hảo- Sài Gòn phát hiện Ngài đang mang trọng bệnh. Suốt 2 năm liền chữa trị Ðông Tây y và bệnh tình cũng có thời gian thuyên giảm. Ngày qua ngày, sức khoẻ của Thượng Tọa kém dần theo cơn bạo bệnh. Thế nhưng với tinh thần “sanh tử nhàn nhi dĩ” Ngài vẫn tích cực sinh hoạt Phật sự. Sống gần gủi chan hoà với chư Tăng. Thời gian gần đây, bệnh tình lại tái phát nặng hơn. Ngài được các bác sĩ Bệnh viện đa khoa Khánh Hoà tận tâm cứu chữa. Nhưng ngặt vì Thượng Toạ tuổi cao sức yếu nên lực bất tòng tâm,như người xưa có câu:

Bầu thuốc Thánh sao chữa được người hết số

Chén linh đơn sao chữa dược bệnh nan y.

Biết được huyễn thân khó trụ cõi Ta bà. Thượng Toạ đã xin rời bệnh viện trở về chùa để chuyên tâm chuẩn bị ngày Tịch diệt. Trước sự lo âu của môn đồ tứ chúng, Ngài vẫn điềm nhiên họp Môn phong Phật tử viết chúc thư, dặn dò mọi sự, khuyến tấn tu hành.

Thế rồi, vào một đêm tỉnh lặng ngày 26 tháng 8 năm Mậu Ty,ù Thượng Tọa đã an nhiên thuận thế vô thường thâu thần tịch diệt tại ngôi Tổ đình Thiên Phước – thôn 3 – xã Diên Phú – huyện Diên Khánh – Khánh Hòa. Trụ thế 72 năm, 55 năm nhập đạo và đã trãi qua 35 mùa An cư kiết hạ.

Ngôi già lam huy hoàng trầm mặc. Hàng Pháp lữ tâm niệm tiễn đưa. Môn đồ hiếu quyến xót thương. Chư Phật giáng lâm tiếp độ.

Thế là trần gian lặng bóng

Thánh cảnh an thần

Tuy biết rằng sắc tức thị không

Nhưng xót nỗi nào sanh nào diệt

Vậy là từ đây

Quê hương ải Bắc nhạn bay về

Yến tổ gành Nam nhớ mọi bề

Thầy nay quảy dép về bảo sở

Tham vấn mai chiều biết hỏi ai?

Thượng Tọa đã vĩnh viễn ra đi bỏ lại các pháp hữu vi giả tạm của cuộc đời. Nhưng đối với chúng con. Ngài vẫn còn sống mãi trong tâm tư của những người con Phật trong ý nghĩa pháp giới vô biên, viên dung vô ngại qua những kiếp lai sinh của trần thế cho đến khi chứng quả Bồ Ðề.

NAM MÔ THIÊN PHƯỚC ÐƯỜNG THƯỢNG TỪ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP NHẤT THẾ HUÝ thượng THANH hạ PHONG TỰ HOÀNG THU HIỆU NHƯ NGUYỆN A XÀ LÊ CHI GIÁC LINH.

----o0o---

Trình bày: Tâm Nhẫn

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/07/2011(Xem: 10136)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8631)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9382)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
24/06/2011(Xem: 9525)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 9048)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11308)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 8070)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8893)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9559)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.
22/06/2011(Xem: 12653)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.