Chúng con nhớ Thầy

08/12/201520:40(Xem: 10029)
Chúng con nhớ Thầy

Bài Tưởng niệm của Đoàn Oanh Vũ Nam - GĐPT Trúc Lâm

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chúng con kính bạch Quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni,

Chúng con kính bạch Giác Linh Thầy

Hôm nay tất cả HT Đoàn Oanh Vũ Nam quỳ trước Giác linh Thầy để hoài niệm những ngày mà chúng con được sống và làm việc với Thầy trong suốt 10 năm Thầy về với Chùa Trúc Lâm. 

Thầy ơi, bây giờ bên ngoài trời đã vào Thu, khung cảnh mùa Thu gợi cho chúng con một nỗi buồn man mát trong lòng. Chúng con cảm thấy trống vắng và buồn lắm vì chúng con phải chấp nhận một sự thật là Thầy kính yêu của chúng con đã viên tịch. Và từ bây giờ chúng con vĩnh viễn không còn gặp Thầy nữa.  

Dẫu biết rằng đời là vô thường, không ai tránh khỏi sự sinh, lão, bệnh, tử. Nhưng khi phải đối diện với sự thật này, chúng con vẫn không cầm được nước mắt, Thầy ơi!…Hôm nay chúng con tề tựu về đây và quỳ xung quanh kim quan Thầy để làm lễ Tưởng niệm Thầy, chúng con vẫn còn có cảm tưởng như Thầy vẫn còn ở nơi này, cười, nói, nhắc nhở và chăm sóc cho chúng con, như chăm sóc đàn con yêu thương của mình.

Mười năm đã trôi qua với sự hướng dẫn của Thầy tại Trúc Lâm.  Đoàn Oanh Vũ chúng con đã bao lớp trưởng thành. Thầy ơi, Thầy còn nhớ không? Nhiều em giờ đây đã lên làm Huynh Trưởng nối truyền hạnh nguyện từ các anh chị Trưởng của mình. Cũng đã có rất nhiều em giờ đây đã lên ngành thiếu. Cũng có rất nhiều em giờ đây đang đi học ở các trường đại học.  Thầy thấy có vui không Thầy?  

Thầy đã không những chăm sóc cho chúng con về mặt tinh thần, mà còn luôn muốn đàn con của Thầy phải học và nói cho giỏi tiếng Việt.  Thầy thường khuyến khích chúng con tạo tất cả điều kiện cho các em thi đọc và nói tiếng Việt.  Thầy rất vui khi thấy chúng con có lên chương trình cho thi đố vui Phật Pháp và thi Việt ngữ. 

HT Hanh Tuan-phat tu truc lam 11 (3)

Chúng con còn nhớ rất rõ trong mỗi dịp xuân về, Thầy muốn chúng con tổ chức cho các em thi đọc tiếng Việt và Thầy nói với chúng con là Thầy đã để dành tiền để thưởng cho các em con rất nhiều, Thầy còn nói rằng nếu số tiền Thầy để dành mà không đủ tiền thưởng cho các em thì Thầy sẽ đi vận động Quý Thầy và quý Bác trong Chùa để chúng con có đủ tiền thưởng hơn khả quan cho các em mình.  Ôi, hoài niệm lại những lời Thầy dạy mà sao chúng con nghe trong lòng đau nhói, như muốn hòa khóc lên cho thỏa chí. Chúng con thật sự rất cần Thầy, các em chúng con rất cần sự hướng dẫn của Thầy. 

Chúng con còn nhớ vào những ngày cuối tuần, khi chúng con có dịp lên Chùa, chúng con thường xuyên thấy Thầy đem những đoạn phim ca nhạc cũ được quay trong những đêm Hội Làng đón giao thừa tại Trúc Lâm. Thầy xem rất say sưa, như hồi tưởng lại lúc Thầy còn là oanh vũ. Khi Thầy thấy chúng con thì Thầy lại nói vào đây xem với Thầy. Rồi Thầy nói khẽ với chúng con, “Con thấy không các em oanh vũ có dễ thương không con? Các em ca, múa có hay không?”

Mỗi lần đến tiết mục của Oanh Vũ Nam, chúng con lại thấy Thầy cười khi xem các em trình diễn. Chúng con cũng biết rằng các em của chúng con trình diễn còn vụng về lắm, nhưng trong ánh mắt Thầy, ánh mắt một vị Cha hiền của chúng con thì đâu đâu cũng đẹp, đâu đâu cũng hay, đâu đâu cũng dễ thương.  Ôi hạnh phúc thay khi nghe Thầy khen các em chúng con. 

Thật không có một ngôn từ nào có thể diễn tả được tình thương yêu của Thầy đã dành cho các em oanh vũ chúng con. Giờ đây, đứng trước Giác Linh Đài Thầy, chúng con có bao nhiêu ngậm ngùi, thương tiếc, nhớ thương, và bao kính mến nhưng không biết nói với Thầy thế nào đây. Chúng con chỉ còn cách đem hết lòng thành kính cầu cho Chư Phật mười phương tiếp độ Giác Linh Thầy về Cực Lạc quốc. Chúng con nguyện ghi nhớ những lời dạy quý báu và noi gương theo những hạnh nguyện cao cả của Thầy.

Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 18037)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8584)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8766)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9716)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11502)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13026)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24243)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10289)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8665)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8581)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.