Hòa Thượng Thích Thiện Thanh

10/04/201311:19(Xem: 9364)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh

htthichthienthanh

Tiểu sử
Hòa thượng Thích Thiện Thanh

(1935 – 1995)

---o0o---

Hòa Thượng Thích Thiện Thanh thuộc dòng thiền Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận, Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðéc miền Nam nước Việt (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp), sinh Năm Ất Hợi (1935) Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 20. Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu đều kính tin Tam Bảo.

Ngài là bậc đồng chơn học đạo. Lúc tám tuổi Ngài được Ðại Lão Hòa Thượng Thích Bửu Chung tiếp độ tại Tổ đình Phước Long Cổ Tự, Rạch Ông Yên, Nha Mân, tỉnh Sa Ðéc và bổn sư của Ngài là Hòa Thượng Thích Huệ Hòa thuộc dòng Lâm Tế gia phổ. Năm lên 15 tuổi Ngài thọ Sa Di giới với Ðại Lão Hòa Thượng Thích Chánh Quả, tại tổ đình Kim Huê tỉnh Sa Ðéc với pháp hiệu là Không Sắc, húy Nhất Thanh.

Năm 20 tuổi Ngài thọ đại giới cùng đậu cấp bằng Hán ngữ học tại Trung Tâm Ấn Quang và Ngài giảng pháp lần đầu tiên tại Long Quang Tự đường Nguyễn Huỳnh Ðức, quận Phú Nhuận, Sài Gòn Tân Sửu (1961).

Năm Giáp Thìn (1964) Ngài được bổ nhiệm làm việc với Tổng Vụ Tăng Sự, phụ trách ngành Tăng Tịch và kiêm nhiệm Trưởng Ban Tăng Tịch cho Tổ đình Ấn Quang. Ngài đậu tú tài toàn phần năm Ất Tỵ (1965), dạy Pháp văn tại trường Bồ Ðề Chợ Lớn và du học Thái Lan do chính phủ Thái đài thọ.

Năm Đinh Mùi (1967) Ngài từ Thái Lan sanh Ấn Ðộ nghiên cứu các đề tài thuộc Phật Giáo Nguyên Thủy tại Viện Nalanda Pali Research Institute, Bihar.

Năm Mậu Thân (1968) Ngài đậu bằng Cao Học Cổ Ngữ (Palyacharya) tại Ðại Học Sankrit University Darbhanga.

Năm TÂn Hợi (1971) Ngài đậu thêm cử nhân và cao học Anh văn.

Năm Bính Thìn (1976) Ngài đậu tiến sĩ tại Ðại Học Magadha Gaya với luận án “A Comparative Study of the Pali Digha Nikaya and ChinaAgama” so sánh Trường Bộ Kinh với Kinh Trường A Hàm.

Ngài còn là tác giả nhiều tác phẩm nghiên cứu có giá trị như:

1- Phật Giáo Ấn Ðộ Ngày Nay.

2- Phật Giáo trong Việt Nam, Ấn Ðộ hay Trung Hoa.

3- Hoàng Ðế Asoka.

4- Bốn Ðức Tánh Cao Quý của Giác Ngộ.

v.v.

Ngài được chính phủ Ấn Ðộ mời dạy ngữ học và lịch sử tại Ðại Học Sri VekaTesvana, Tirapati. Trước đó Ngài cũng đã được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa mời về làm Viện Trưởng Ðại Học Cần Thơ.

Năm Mậu Ngọ (1978) Ngài từ việc ở Ðại Học Sri VekaTesvana, Tirapati, sang Mỹ dưới sự bảo trợ của chùa Việt Nam (Los Angeles), nhận chức Phó Chủ Tịch Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ (12/78) kiêm giảng sư của Ðại Học University of Oriental Studies tại Los Angeles.

Năm Kỷ Mùi (1979) Ngài nhận chức Giám đốc Trung Tâm Tỵ Nạn Ðông Dương.

Kể từ đầu thập niên 80 cho đến nay Ngài về Long Beach, thành lập hội Phật Giáo Long Beach và xây dựng Tự Viện Phật Tổ. Với ý chí phục vụ đạo pháp và hướng dẫn Phật tử sống xa thành phố Los Angeles, Ngài không quản khó khăn, tận tụy hoằng hóa độ sanh cho đến hơi thở cuối cùng. Quả thật vậy, tuy thân xác Ngài thập tử nhất sinh ở bệnh viện nhưng tâm niệm Ngài vẫn không ngớt âu lo cho lể Phật Ðản tại chùa.

Nhưng niềm lo lớn nhất của Ngài là công việc nghiên cứu và dịch thuật đang dang dở; Ngài đã thực hiện được;

1- Tập “Nghi Thức Tụnh Niệm Hằng Ngày” ngắn ngọn và dễ hiểu phù hợp với nhu cầu thiết yếu của giới Phật tử hải ngoại.

2- Hai tập đầu của “Kinh Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm” in khổ lớn, trình bày hết sức mỹ thuật, tổng cộng gần nghìn trang. Ðây là một công trình lớn lao đòi hỏi một sự cộng tác của nhiều học giả nghiên cứu phân tích tài liệu, Ngài viết “Khi dịch, dịch giả đã cân nhắc cẩn thận sợ rằng: “Y kinh giải nghĩatam thế Phật oan, Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”.Vì vậy, mất quá nhiều thì giờ, dịch giả phải so sánh bản chữ Hán này với bản Sanskrit…”. Với sự hiểu biết nguyên thâm về Phật pháp của một tu sĩ công phu thiền tập với Lục Diệu Pháp Môn, với một căn bản cổ ngữ và ngoại ngữ phong phú của một học giả nghiêm túc, Ngài biết trước công việc mình cần phải làm nên thường nói: Tôi cần phải phiên dịch bộ Hoa Nghiêm vì không còn sống bao năm.

Ngài là một bậc cao Tăng đầy đủ mọi đức tính Từ bi hỷ xả, luôn luôn tận tình vì đạo, sống đơn giản, đạm bạc, tuy nghiêm với mình và khoan dung với người nhưng không chấp nhận xa hoa hay cẩu thả, tuy khiêm nhường từ tốn nhưng vẫn hài hước trào phúng mà không mất lòng ai.

Tự Viện Phật Tổ là một ngôi chùa tôn, chật hẹp, tối tăm, oi bức mùa hè, ẩm thấp mùa đông, nằm giữa một khuôn viên “Chung cư bàn Cờ”. Bao nhiêu thù lao dạy học gom với tịnh tài thí chủ, thay vì xây chùa cao cổng rộng Ngài chuyển sang mục phiên dịch và ấn tống kinh sách nên luôn luôn túng thiếu. Mãi cho đến giờ Viên tịch, đệ tử mới biết Ngài mặc áo quần vá tại xứ Hoa Kỳ.

Trăm năm ba vạn sáu ngìn ngày;

Gắng công suy xét nguyên lai là gì ?

Sau thời gian điều trị bệnh tại bệnh viện, nhân duyên Ta Bà quả mãn, Ngài an nhiên thu thần tịch diệt vào lúc 10:40 ngày 18 tháng 7 năm Ất Hợi (1995).

Hưởng thọ 61 Xuân. An cư 40 Hạ.

Mười lăm năm cuối cùng ngắn ngủi sống với kinh Hoa Nghiêm tại Tự Viện Phật Tổ chính lại là giai đoạn quan trọng nhất của cuộc đời tại thế độ sanh của một bậc đồng chơn nhập đạo.

Thích Vân Phong biên tập

(theo môn phong pháp phái Chùa Phật Tổ, Hoa Kỳ)

----o0o---

Trình bày: Tịnh Tuệ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/06/2012(Xem: 12706)
Thành Kính Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Giác Lâm (1928 - 2012)
24/06/2012(Xem: 25422)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8735)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9988)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18434)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 18205)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 11203)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 25573)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9088)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12427)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.