Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Hòa Thượng Thích Liễu Không

10/04/201311:17(Xem: 9894)
Hòa Thượng Thích Liễu Không

htlieukhong2


(xem hình lớn hơn)

Tiểu Sử
Hòa Thượng Thích Liễu Không

Hòa Thượng thế danh Nguyễn Xuân Đệ,sinh ngày 20-10-1930,thân phụ của ngài là cụ ông Nguyễn Nhạc P.D Như Thiện, thân mẫu của ngài là cụ bà Huỳnh Thị Hoài P.D Thị Lân, Ông Bà có ba người con : hai người con gái và ngài là người con trai duy nhất.

Ngài sanh tại thôn Hữu Pháp,xã Cát Chánh,huyện Phù Cát,tỉnh Bình Định.Thân Phụ và thân mẫu đều là đệ tử của Chư tôn đức Chùa Thiên Bình.

Năm lên mười tuổi ngài tỏ ra căn tánh sáng suốt lanh lẹ và rất có căn duyên với phật,nên song thân quyết định cho ngài xuất gia với Hòa Thượng Thích Tâm Đạt Viện Chủ Chùa Thiên Bình, ngài được Hòa thượng Bổn Sư phú pháp cho pháp danh là Thị Duật.

Kể từ đó ngài chuyên tâm thọ trì kinh luật sớm hôm thờ thầy,tinh tấn chuyên cần không một chút giải đãi.

Năm 1950 lúc đó ngài vừa 20 tuổi, nhận thấy khả năng thông sốt kinh luận của ngài nên Hòa Thượng Bổn Sư cho ngài thọ Tam Đàn Cụ Túc tại giới đàn Tổ Đình Thiên Bình do Hòa thượng Huệ Chiếu đương kim trú trì Tổ Đình Thập Tháp làm đường đầu,ngài đã đắc pháp và được Bổn Sư phú hiệu cho ngài là Liễu Không, cũng trong năm này Ngài được mời làm Bí thư phật giáo cứu quốc xã Nhơn Phong, ngài là một thành viên suất sắc nhất trong sự vận động chuyễn hướng phật sự do phật giáo cứu quốc Liên Khu 5 khởi xướng,lúc đó ngài được đề bạt lên công tác phật sự tại Liên Khu 5 huyện An Nhơn .

Năm 1953 Ngài được bầu làm thư ký Hội Phật Giáo Việc Nam Huyện An Nhơn và được đề cử làm đoàn thanh tra của Hội Phật Giáo Việt Nam Tỉnh Bình Định.

Sau hiệp định Giơnéver tạm đình chiến Việt-Pháp đất nước bị chia đôi, Ngài cùng 18 huynh đệ trong và ngoài tỉnh đã đi bộ băng núi rừng vượt đèo Cù Mông, đèo Cả đến tòng học tại Phật Học Viện Trung Phần Nha Ttrang, dưới sự lãnh đạo của Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm, Hòa Thượng Thích Huyền Quang đặt trách cho ngài làm quản lý nhà in Hoa Sen do Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Trung Phần sáng lập để làm kinh tế tự túc cho Phật Hoc Viện thời bấy giờ.

Đầu năm 1958 Ngài là thành viên hàng đầu sáng lập Tu Viện Nguyên Thiều Bình Định.

Năm 1960 Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Trung Phần phân công ngài về làm phật sự tại Bình Định ngài được mời làm Hội Trưởng Hội Phật Giáo Huyện An Nhơn Tỉnh Bình Định.

Năm 1962 Đại lão Hòa thượng Bổn Sư Thích Tâm Đạt đã triệu tập chư tăng môn hạ về để trạch cử người thừa kế.Ngài đã được môn hạ suy cử làm trụ trì Tổ Đình Thiên Bình.

Năm 1963 Hòa Thượng là một thành viên đắc lực trong phong trào chống chế độ kỳ thị tôn giáo Ngô Đình Diệm, ngài bị tù đày tại nhà lao Quy Nhơn,sau đó được HT Thích Tâm Hoàn nhân danh Hội phật Giáo Bình Định vào nhà lao bảo lãnh ngài ra .

Năm 1964 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập ngài được mời làm chánh đại diện phật giáo Việt Nam Thống Nhất Huyện An Nhơn trãi qua hai nhiệm kỳ.

Từ năm 1973-1977 ngài làm Tổng Thư Ký Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Tỉnh Bình Định.

Năm 1975 ngài tái thiết toàn bộ ngôi Tổ Đình Thiên Bình do chiến tranh tàn phá.

Năm 1982 Hòa Thượng được mời làm Phó Ban Thường Trực Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Tỉnh Bình Định. Lúc bấy giờ ngài gởi nhiều văn thư đến các cấp chính quyền yêu cầu hoàn trả hai ngôi chùa Từ Phước, Từ Hải ở Quảng Ngãi và cơ sở Tỉnh Hội Phật Giáo Tỉnh Bình Định.

Trong sự nghiệp hành đạo của ngài,ngoài việc tái thiết Tổ Đình Thiên Bình, ngài còn khai sơn các ngôi chùa như : chùa Hưng Quang, chùa Kim Long, chùa Giác Hải và trùng tu chùa Chi Hội An Nhơn,chùa Thiên Hưng,chùa Phước Hưng,chùa Phước Sa,chùa Thiên Long,chùa Thiên Ân v.v.

Vì sự nghiệp hoằng pháp độ sanh ngài luôn gắn liền cuộc đời mình với vận mệnh thịnh suy của đất nước và dân tộc,ngài không ngại gian lao không hề khó nhọc, nhất là những năm 1979-1992 tuy tuổi già sức yếu nhưng Hòa Thượng cũng thể theo tinh thần tu học của chư tăng và hàng phật tử tại gia nên đã tổ chức nhiều khóa An Cư Kiết Hạ tại Tổ Đình Thiên Bình và chùa Chi Hội An Nhơn,hướng dẫn dạy dỗ kinh luật cho hai chúng tại gia và xuất gia.Với giọng nói hiền từ,với nụ cười bao dung ngài đã chuyễn tải đạo mầu của Đức Phật đến từng tâm niệm.

Đến lúc sắc thân tứ đại theo định luật vô thường chi phối Hòa Thượng lâm trọng bệnh, mặc dù đã được các bác sỹ Đông - Tây y tận tình chữa trị nhưng căn bệnh vẫn không thuyên giảm.Tuy căn bệnh hoành hành nhưng ngài luôn tỉnh giác và nhất niệm,luôn luôn nhắc nhở chư tăng ni và phật tử tín đồ phải tinh tấn tu hành,phụng sự đạo pháp và dân tộc.

Thế rồi sức khỏe của Hòa Thượng ngày càng yếu dần,ngài đã thâu thần thị tịch vào lúc 11.30 am, Ngày 29-7-1999, nhằm ngày 17-06- Kỷ Mão.Thọ thế 70,hạ lạp 50 

than ôi !

Trăng khuya trắng rụng sân chùa
Xót lòng thiền thất gió lùa đèn xao

Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tôn Tứ Thập Nhị Thế,Thiên Bình Đường Thượng, Huý Thượng Thị Hạ Duật Tự Hạnh Pháp, Hiệu Liễu Không Hòa Thượng Bổn Sư Giác Linh Liên Tọa Chứng Minh

(xem hình lễ húy nhật)

----o0o---


Trình bày: Thích Đồng Thanh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/08/2011(Xem: 4934)
Lễ húy nhật cố Hòa thượng Thích Phước Huệ (1875 - 1963) - chùa Hải Đức
08/08/2011(Xem: 5474)
"Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành?" - Câu hỏi được phần nào lý giải trong tham luận của Nguyễn Trần Trương (Phó Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh) trong Hội thảo tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua
07/08/2011(Xem: 12975)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
04/08/2011(Xem: 5225)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 7236)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 5755)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 7086)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
24/06/2011(Xem: 5882)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 5907)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 8314)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]