Hòa Thượng Thích Liễu Không

10/04/201311:17(Xem: 11939)
Hòa Thượng Thích Liễu Không

htlieukhong2


(xem hình lớn hơn)

Tiểu Sử
Hòa Thượng Thích Liễu Không

Hòa Thượng thế danh Nguyễn Xuân Đệ,sinh ngày 20-10-1930,thân phụ của ngài là cụ ông Nguyễn Nhạc P.D Như Thiện, thân mẫu của ngài là cụ bà Huỳnh Thị Hoài P.D Thị Lân, Ông Bà có ba người con : hai người con gái và ngài là người con trai duy nhất.

Ngài sanh tại thôn Hữu Pháp,xã Cát Chánh,huyện Phù Cát,tỉnh Bình Định.Thân Phụ và thân mẫu đều là đệ tử của Chư tôn đức Chùa Thiên Bình.

Năm lên mười tuổi ngài tỏ ra căn tánh sáng suốt lanh lẹ và rất có căn duyên với phật,nên song thân quyết định cho ngài xuất gia với Hòa Thượng Thích Tâm Đạt Viện Chủ Chùa Thiên Bình, ngài được Hòa thượng Bổn Sư phú pháp cho pháp danh là Thị Duật.

Kể từ đó ngài chuyên tâm thọ trì kinh luật sớm hôm thờ thầy,tinh tấn chuyên cần không một chút giải đãi.

Năm 1950 lúc đó ngài vừa 20 tuổi, nhận thấy khả năng thông sốt kinh luận của ngài nên Hòa Thượng Bổn Sư cho ngài thọ Tam Đàn Cụ Túc tại giới đàn Tổ Đình Thiên Bình do Hòa thượng Huệ Chiếu đương kim trú trì Tổ Đình Thập Tháp làm đường đầu,ngài đã đắc pháp và được Bổn Sư phú hiệu cho ngài là Liễu Không, cũng trong năm này Ngài được mời làm Bí thư phật giáo cứu quốc xã Nhơn Phong, ngài là một thành viên suất sắc nhất trong sự vận động chuyễn hướng phật sự do phật giáo cứu quốc Liên Khu 5 khởi xướng,lúc đó ngài được đề bạt lên công tác phật sự tại Liên Khu 5 huyện An Nhơn .

Năm 1953 Ngài được bầu làm thư ký Hội Phật Giáo Việc Nam Huyện An Nhơn và được đề cử làm đoàn thanh tra của Hội Phật Giáo Việt Nam Tỉnh Bình Định.

Sau hiệp định Giơnéver tạm đình chiến Việt-Pháp đất nước bị chia đôi, Ngài cùng 18 huynh đệ trong và ngoài tỉnh đã đi bộ băng núi rừng vượt đèo Cù Mông, đèo Cả đến tòng học tại Phật Học Viện Trung Phần Nha Ttrang, dưới sự lãnh đạo của Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm, Hòa Thượng Thích Huyền Quang đặt trách cho ngài làm quản lý nhà in Hoa Sen do Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Trung Phần sáng lập để làm kinh tế tự túc cho Phật Hoc Viện thời bấy giờ.

Đầu năm 1958 Ngài là thành viên hàng đầu sáng lập Tu Viện Nguyên Thiều Bình Định.

Năm 1960 Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Trung Phần phân công ngài về làm phật sự tại Bình Định ngài được mời làm Hội Trưởng Hội Phật Giáo Huyện An Nhơn Tỉnh Bình Định.

Năm 1962 Đại lão Hòa thượng Bổn Sư Thích Tâm Đạt đã triệu tập chư tăng môn hạ về để trạch cử người thừa kế.Ngài đã được môn hạ suy cử làm trụ trì Tổ Đình Thiên Bình.

Năm 1963 Hòa Thượng là một thành viên đắc lực trong phong trào chống chế độ kỳ thị tôn giáo Ngô Đình Diệm, ngài bị tù đày tại nhà lao Quy Nhơn,sau đó được HT Thích Tâm Hoàn nhân danh Hội phật Giáo Bình Định vào nhà lao bảo lãnh ngài ra .

Năm 1964 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập ngài được mời làm chánh đại diện phật giáo Việt Nam Thống Nhất Huyện An Nhơn trãi qua hai nhiệm kỳ.

Từ năm 1973-1977 ngài làm Tổng Thư Ký Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Tỉnh Bình Định.

Năm 1975 ngài tái thiết toàn bộ ngôi Tổ Đình Thiên Bình do chiến tranh tàn phá.

Năm 1982 Hòa Thượng được mời làm Phó Ban Thường Trực Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Tỉnh Bình Định. Lúc bấy giờ ngài gởi nhiều văn thư đến các cấp chính quyền yêu cầu hoàn trả hai ngôi chùa Từ Phước, Từ Hải ở Quảng Ngãi và cơ sở Tỉnh Hội Phật Giáo Tỉnh Bình Định.

Trong sự nghiệp hành đạo của ngài,ngoài việc tái thiết Tổ Đình Thiên Bình, ngài còn khai sơn các ngôi chùa như : chùa Hưng Quang, chùa Kim Long, chùa Giác Hải và trùng tu chùa Chi Hội An Nhơn,chùa Thiên Hưng,chùa Phước Hưng,chùa Phước Sa,chùa Thiên Long,chùa Thiên Ân v.v.

Vì sự nghiệp hoằng pháp độ sanh ngài luôn gắn liền cuộc đời mình với vận mệnh thịnh suy của đất nước và dân tộc,ngài không ngại gian lao không hề khó nhọc, nhất là những năm 1979-1992 tuy tuổi già sức yếu nhưng Hòa Thượng cũng thể theo tinh thần tu học của chư tăng và hàng phật tử tại gia nên đã tổ chức nhiều khóa An Cư Kiết Hạ tại Tổ Đình Thiên Bình và chùa Chi Hội An Nhơn,hướng dẫn dạy dỗ kinh luật cho hai chúng tại gia và xuất gia.Với giọng nói hiền từ,với nụ cười bao dung ngài đã chuyễn tải đạo mầu của Đức Phật đến từng tâm niệm.

Đến lúc sắc thân tứ đại theo định luật vô thường chi phối Hòa Thượng lâm trọng bệnh, mặc dù đã được các bác sỹ Đông - Tây y tận tình chữa trị nhưng căn bệnh vẫn không thuyên giảm.Tuy căn bệnh hoành hành nhưng ngài luôn tỉnh giác và nhất niệm,luôn luôn nhắc nhở chư tăng ni và phật tử tín đồ phải tinh tấn tu hành,phụng sự đạo pháp và dân tộc.

Thế rồi sức khỏe của Hòa Thượng ngày càng yếu dần,ngài đã thâu thần thị tịch vào lúc 11.30 am, Ngày 29-7-1999, nhằm ngày 17-06- Kỷ Mão.Thọ thế 70,hạ lạp 50 

than ôi !

Trăng khuya trắng rụng sân chùa
Xót lòng thiền thất gió lùa đèn xao

Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tôn Tứ Thập Nhị Thế,Thiên Bình Đường Thượng, Huý Thượng Thị Hạ Duật Tự Hạnh Pháp, Hiệu Liễu Không Hòa Thượng Bổn Sư Giác Linh Liên Tọa Chứng Minh

(xem hình lễ húy nhật)

----o0o---


Trình bày: Thích Đồng Thanh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/10/2012(Xem: 8370)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...
22/09/2012(Xem: 10063)
Ni sư Thích Nữ Như Phụng nguyên là viện chủ chùa Long Vân , sinh tiền Ni sư là cố vấn ni chúng chùa Long Vân , làm Hóa chủ trường hạ trong 6 năm , trưởng phòng châm cứu từ thiện của chùa,thành viên mặt trận tổ quốc xã Tam Phước , trưởng bếp cơm từ thiện Bệnh viện đa khoa Long Thành. Suốt cả cuộc đời ni sư tận tụy cho sự nghiệp tu hành và hoằng dương Đạo pháp , một lòng chuyên tâm Niệm Phật A Di Đà , công quả viên mãn Ni sư an nhiên tự tại vãng sanh trong lúc đứng Niệm Phật cùng đại chúng trên Đại hùng bảo điện không gian tràn ngập hương cúng dường thanh tịnh .Sau khi làm lễ trà tì ngài để lại rất nhiều xá lợi minh chứng cho công đức tu hành tinh nghiêm của một vị cao ni.
21/09/2012(Xem: 14132)
Phật hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.
20/09/2012(Xem: 7993)
Sáng nay con về lại Vạn Hạnh, không phải đi học, không phải nộp bài thi, không phải đi đảnh lễ,... mà để đi tiễn Ôn về với Phật. Con hòa mình vào dòng người tấp nập trên giao lộ Nguyễn Kiệm trong buổi sớm bình minh. Một ngày như mọi ngày nhưng cảnh vật hôm nay không còn bình yên nữa. Cây cỏ úa màu, hoa buồn ủ rũ. Mọi người tất bật, nôn nao bước nhanh về cổng chùa Vạn Hạnh, như sợ chậm chân sẽ không còn chỗ cho mình cung tiễn Thầy đi.
08/09/2012(Xem: 10700)
Với Hòa thượng Minh Châu, một đại sư đã ra đi. Một đại sư cỡ ấy, thế hệ chúng ta chỉ có vài vị. Vài vị, nhưng là những ngọn đuốc soi sáng đường đi cho cả một nửa thế kỷ. Hôm nay, ngọn đuốc gần như là cuối cùng ấy đã tắt. Đã tắt, để nói với chúng ta, như Phật đã nói khi nhập diệt: Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.
08/09/2012(Xem: 8375)
Tin Sư Ông ra-đi-về cõi bất sinh đã dệt nên những cơn bồi hồi, xúc động. Biết nói cái gì, và sẽ nói cái gì về một vầng ánh sáng chói lọi vừa lịm tắt? Càng cố nói về cái “rạng rỡ” thì càng trở nên vụng về! Nhưng vượt lên trên tất cả và vẫn còn hiện hữu nơi đây là tấm lòng tri ân sâu sắc đối với công trình dịch thuật Kinh tạng của Người. Lòng tri ân sâu thẳm đó vẫn âm ỉ trong tâm thức của những người từng có cơ duyên được học hỏi “triết lý giác ngộ”- một thứ triết lý nguyên thủyhàm chứa những kinh nghiệm chứng ngộ rất ngườicủa Đức Thế Tôn.
07/09/2012(Xem: 9332)
Các bạn thân mến, Tôi lớn lên trong cảnh bất công và quê hương nhuộm đầy máu lửa. Trái tim tôi đã dược nuôi dưỡng bằng tình yêu quê hương qua những tấm gương của các vị anh hùng yêu nuớc. Tôi yêu lí‎ tưởng Từ Bi của Đức Phật qua tinh thần bất bạo động, tôi không thích tham gia vào các tổ chức và các cuộc đấu tranh. Tôi đã đi dự những khóa tu của thầy Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai tổ chức trong một số chùa lớn của ba miền đất nuớc, trong thời gian Thầy về Việt Nam.
07/09/2012(Xem: 9357)
Trước tin Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu viên tịch, tôi xin thành kính có bài ghi lại kỷ niệm phước duyên được nghe ngài thuyết pháp. Đó là thời điểm những năm 1978, 1979… Vào lúc ấy, Tổng vụ Hoằng Pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức thuyết pháp hàng tuần vào lúc 15h chiều chủ nhật tại trụ sở của Giáo hội là chùa Ấn Quang.
02/09/2012(Xem: 13533)
Hòa Thượng Thích Minh Châu sinh năm 1918 tại Quảng Nam. Xuất gia năm 1946 với Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân, Huế...