Hòa Thượng Thích Liễu Không

10/04/201311:17(Xem: 12104)
Hòa Thượng Thích Liễu Không

htlieukhong2


(xem hình lớn hơn)

Tiểu Sử
Hòa Thượng Thích Liễu Không

Hòa Thượng thế danh Nguyễn Xuân Đệ,sinh ngày 20-10-1930,thân phụ của ngài là cụ ông Nguyễn Nhạc P.D Như Thiện, thân mẫu của ngài là cụ bà Huỳnh Thị Hoài P.D Thị Lân, Ông Bà có ba người con : hai người con gái và ngài là người con trai duy nhất.

Ngài sanh tại thôn Hữu Pháp,xã Cát Chánh,huyện Phù Cát,tỉnh Bình Định.Thân Phụ và thân mẫu đều là đệ tử của Chư tôn đức Chùa Thiên Bình.

Năm lên mười tuổi ngài tỏ ra căn tánh sáng suốt lanh lẹ và rất có căn duyên với phật,nên song thân quyết định cho ngài xuất gia với Hòa Thượng Thích Tâm Đạt Viện Chủ Chùa Thiên Bình, ngài được Hòa thượng Bổn Sư phú pháp cho pháp danh là Thị Duật.

Kể từ đó ngài chuyên tâm thọ trì kinh luật sớm hôm thờ thầy,tinh tấn chuyên cần không một chút giải đãi.

Năm 1950 lúc đó ngài vừa 20 tuổi, nhận thấy khả năng thông sốt kinh luận của ngài nên Hòa Thượng Bổn Sư cho ngài thọ Tam Đàn Cụ Túc tại giới đàn Tổ Đình Thiên Bình do Hòa thượng Huệ Chiếu đương kim trú trì Tổ Đình Thập Tháp làm đường đầu,ngài đã đắc pháp và được Bổn Sư phú hiệu cho ngài là Liễu Không, cũng trong năm này Ngài được mời làm Bí thư phật giáo cứu quốc xã Nhơn Phong, ngài là một thành viên suất sắc nhất trong sự vận động chuyễn hướng phật sự do phật giáo cứu quốc Liên Khu 5 khởi xướng,lúc đó ngài được đề bạt lên công tác phật sự tại Liên Khu 5 huyện An Nhơn .

Năm 1953 Ngài được bầu làm thư ký Hội Phật Giáo Việc Nam Huyện An Nhơn và được đề cử làm đoàn thanh tra của Hội Phật Giáo Việt Nam Tỉnh Bình Định.

Sau hiệp định Giơnéver tạm đình chiến Việt-Pháp đất nước bị chia đôi, Ngài cùng 18 huynh đệ trong và ngoài tỉnh đã đi bộ băng núi rừng vượt đèo Cù Mông, đèo Cả đến tòng học tại Phật Học Viện Trung Phần Nha Ttrang, dưới sự lãnh đạo của Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm, Hòa Thượng Thích Huyền Quang đặt trách cho ngài làm quản lý nhà in Hoa Sen do Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Trung Phần sáng lập để làm kinh tế tự túc cho Phật Hoc Viện thời bấy giờ.

Đầu năm 1958 Ngài là thành viên hàng đầu sáng lập Tu Viện Nguyên Thiều Bình Định.

Năm 1960 Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Trung Phần phân công ngài về làm phật sự tại Bình Định ngài được mời làm Hội Trưởng Hội Phật Giáo Huyện An Nhơn Tỉnh Bình Định.

Năm 1962 Đại lão Hòa thượng Bổn Sư Thích Tâm Đạt đã triệu tập chư tăng môn hạ về để trạch cử người thừa kế.Ngài đã được môn hạ suy cử làm trụ trì Tổ Đình Thiên Bình.

Năm 1963 Hòa Thượng là một thành viên đắc lực trong phong trào chống chế độ kỳ thị tôn giáo Ngô Đình Diệm, ngài bị tù đày tại nhà lao Quy Nhơn,sau đó được HT Thích Tâm Hoàn nhân danh Hội phật Giáo Bình Định vào nhà lao bảo lãnh ngài ra .

Năm 1964 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập ngài được mời làm chánh đại diện phật giáo Việt Nam Thống Nhất Huyện An Nhơn trãi qua hai nhiệm kỳ.

Từ năm 1973-1977 ngài làm Tổng Thư Ký Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Tỉnh Bình Định.

Năm 1975 ngài tái thiết toàn bộ ngôi Tổ Đình Thiên Bình do chiến tranh tàn phá.

Năm 1982 Hòa Thượng được mời làm Phó Ban Thường Trực Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Tỉnh Bình Định. Lúc bấy giờ ngài gởi nhiều văn thư đến các cấp chính quyền yêu cầu hoàn trả hai ngôi chùa Từ Phước, Từ Hải ở Quảng Ngãi và cơ sở Tỉnh Hội Phật Giáo Tỉnh Bình Định.

Trong sự nghiệp hành đạo của ngài,ngoài việc tái thiết Tổ Đình Thiên Bình, ngài còn khai sơn các ngôi chùa như : chùa Hưng Quang, chùa Kim Long, chùa Giác Hải và trùng tu chùa Chi Hội An Nhơn,chùa Thiên Hưng,chùa Phước Hưng,chùa Phước Sa,chùa Thiên Long,chùa Thiên Ân v.v.

Vì sự nghiệp hoằng pháp độ sanh ngài luôn gắn liền cuộc đời mình với vận mệnh thịnh suy của đất nước và dân tộc,ngài không ngại gian lao không hề khó nhọc, nhất là những năm 1979-1992 tuy tuổi già sức yếu nhưng Hòa Thượng cũng thể theo tinh thần tu học của chư tăng và hàng phật tử tại gia nên đã tổ chức nhiều khóa An Cư Kiết Hạ tại Tổ Đình Thiên Bình và chùa Chi Hội An Nhơn,hướng dẫn dạy dỗ kinh luật cho hai chúng tại gia và xuất gia.Với giọng nói hiền từ,với nụ cười bao dung ngài đã chuyễn tải đạo mầu của Đức Phật đến từng tâm niệm.

Đến lúc sắc thân tứ đại theo định luật vô thường chi phối Hòa Thượng lâm trọng bệnh, mặc dù đã được các bác sỹ Đông - Tây y tận tình chữa trị nhưng căn bệnh vẫn không thuyên giảm.Tuy căn bệnh hoành hành nhưng ngài luôn tỉnh giác và nhất niệm,luôn luôn nhắc nhở chư tăng ni và phật tử tín đồ phải tinh tấn tu hành,phụng sự đạo pháp và dân tộc.

Thế rồi sức khỏe của Hòa Thượng ngày càng yếu dần,ngài đã thâu thần thị tịch vào lúc 11.30 am, Ngày 29-7-1999, nhằm ngày 17-06- Kỷ Mão.Thọ thế 70,hạ lạp 50 

than ôi !

Trăng khuya trắng rụng sân chùa
Xót lòng thiền thất gió lùa đèn xao

Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tôn Tứ Thập Nhị Thế,Thiên Bình Đường Thượng, Huý Thượng Thị Hạ Duật Tự Hạnh Pháp, Hiệu Liễu Không Hòa Thượng Bổn Sư Giác Linh Liên Tọa Chứng Minh

(xem hình lễ húy nhật)

----o0o---


Trình bày: Thích Đồng Thanh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/05/2013(Xem: 18175)
Trong suốt gần hai nghìn nămhiện diện trên quê hương, chưa bao giờ Phật giáo Việt Nam phải đối diện vớinhững đe dọa và thách thức trầm trọng như trong gần bốn mươi năm giữa thế kỷthứ 20. Đó là giai đoạn mà Phật giáo phải chịu tác động của 3 cuộc khủng hoảnglớn
25/05/2013(Xem: 20661)
Những sự kiện nổi bật nơi Thầy Minh Phát mà chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử quen biết xa gần đều rất khó quên : Nơi các Đại giới đàn, Thầy là vị dẫn lễ thân kính của các giới tử; nơi các đàn chẩn tế trong những ngày lễ hội lớn, Thầy là vị sám chủ uy nghiêm và gây ấn tượng mạnh trong lòng đai chúng; nơi các bịnh nhân, Thầy là vị lương y kỳ diệu, với một chai nước mát Thầy đọc vài câu Kinh ngắn chú nguyện, người bịnh mang về uống là có thể hết bịnh (đã có nhiều người hết bịnh nhờ uống những chai nước mát của Thầy cho); nơi các Tổ đình lớn, trong một số ngày lễ hội, khi cần - thầy là người “đầu bếp tài ba” v.v…
12/05/2013(Xem: 8569)
Lời Người Dịch: Hồ sơ này đã giải mật theo luật Hoa Kỳ -- tuy vẫn còn xóa trắng 2 dòng ở trang 1, và xóa trắng hai trang 3 và 4 -- sẽ cho thấy cách nhìn từ chính phủ Mỹ về tình hình Việt Nam trong thập niên 1960s. Hồ sơ này cho thấy đánh giá từ phía tình báo Hoa Kỳ về Thầy Thích Trí Quang và hoạt động của Phật Giáo VN trong năm 1966, tức là ba năm sau khi Hòa Thượng Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân. Một vài đánh giá trong bản văn này bây giờ đã thấy là không chính xác, khi Mỹ dựa vào suy đoán để gán ghép một mục tiêu chính trị nào đó cho một hay nhiều vị sư. Tuy nhiên, bản văn này cho thấy cái nhìn từ phía tình báo Hoa Kỳ đối với Phật Giáo trong tình hình lúc đó đang gay gắt, và sẽ chiếu rọi thêm một phần vào lịch sử phong trào Phật Giáo.
23/04/2013(Xem: 13803)
Quyển NGỮ LỤC này là tập hợp từ những lời thị chúng của Thiền Sư DUYÊN LỰC trong những kỳ thiền thất tại Việt Nam kể từ năm 1983 cho đến những năm tháng cuối đời. Cứ hằng tháng Ngài cho mở một khóa tu bảy ngày ở mỗi Thiền đường cho các hành giả tu Thiền, gọi là “đả thiền thất” để hướng dẫn đại chúng chuyên sâu trong sự nghiệp tu hành. Những lời dạy trước sau đều được đồ đệ ghi âm lại để làm tài liệu tham khảo.
23/04/2013(Xem: 9242)
Như đã kết thiện duyên từ thuở ấy, Giọt mưa trời tưới ngọt đất Hồ Nam. Tiêu phụ thân và từ mẫu họ Nhan Dòng vọng tộc, làm quan Thanh triều đại.
22/04/2013(Xem: 9682)
Kể từ khi loài người biết phát huy trí tuệ, chúng ta thấy rõ có hai khuynh hướng phát triển, khuynh hướng hướng nội và khuynh hướng hướng ngoại. Khuynh hướng hướng ngoại, gọi là ngoại quan, tức quan sát sự hiện hữu và diễn tiến của sự vật bên ngoài giúp cho con người có được nhận thức đúng đắn về sự sống của hiện tượng giới.
22/04/2013(Xem: 27100)
Ba năm về trước, khi bổn-sư (và cũng là chú ruột) của tôi là cố Hòa-Thượng Ðại-Ninh THÍCH THIỀN-TÂM viên-tịch, trong buổi lễ thọ tang ngài tôi có dâng lời nguyện trước giác-linh Hòa-Thượng cầu xin ngài chứng-minh và gia-hộ cho tôi - vừa là đệ-tử và cũng là cháu ruột của ngài - được đầy đủ đạo-lực cùng minh-tâm, kiến-tánh thêm hơn để nối-tiếp theo gót chân ngài, hoằng-dương pháp môn Tịnh-độ nơi hải-ngoại ....
17/04/2013(Xem: 8407)
Con, Tỳ kheo ni Hạnh Thanh, vừa là môn phái Linh Mụ ; nhưng thật ra, Ôn, cũng như con và cả Đại chúng Linh Mụ đều là tông môn Tây Thiên pháp phái. Vì Ôn Đệ tam Tăng thống tuy Trú trì Linh Mụ quốc tự, nhưng lại là đệ tử út của Tổ Tâm Tịnh, Khai sơn Tổ Đình Tây Thiên, được triều Nguyễn dưới thời vua Khải Định sắc phong là Tây Thiên Di Đà tự. Ôn Cố Đại lão Hòa thượng Đôn Hậu có cùng Pháp tự chữ Giác với quý Ôn là Giác Thanh, trong Sơn môn Huế thường gọi là hàng thạch trụ Cửu Giác và có thêm một hàng gọi là bậc danh tăng thạc học Cửu Trí (Chỉ cho các ngài Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siệu v..v...) Cố đô Huế là vậy ; đó là chưa kể nơi phát sinh ra danh Tăng ưu tú ngũ Mật nhị Diệu (Mật Tín, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không) và cũng là nơi đào tạo tăng tài, xây dựng trường Đại học Phật giáo đầu tiên không những chỉ cho Huế mà cả miền Trung việt Nam nữa. Ở Huế thường kính trọng các bậc chơn tu thực học, đạo cao đức trọng nên thường lấy tên chùa để gọi pháp
11/04/2013(Xem: 18665)
Một con người với nhiều huyền thoại bao phủ theo từng bước đi, dù ngàn năm trôi qua nhưng dấu ấn vẫn còn đong đầy trong tận cùng tâm thức, hạnh nguyện độ sanh vẫn lớn dần theo nhịp tử sinh, in dấu trên từng hoá độ, kỳ bí trong vô cùng không tận, không ngôn ngữ nào có thể diễn tả trọn vẹn. Một sự lặng thinh phổ cập trên từng đường nét, chỉ có cõi lòng thành kính tri ơn, nhớ ơn, biết ơn, được nhân dân tôn thờ lễ bái
10/04/2013(Xem: 12324)
Ngày 15-2-1965, tôi và thầy Chơn Thanh cũng như các học Tăng khác từ các nơi tập trung về Phật học viện Huệ Nghiêm dự thi tuyển vào khóa II của Phật học viện. Thầy thì từ Phật học đường Phổ Quang Gia Định đến, tôi thì từ Phật học đường Lưỡng Xuyên- Trà Vinh lên, tất cả cùng một chí hướng, một mục đích và một ước nguyện là thi đậu vào Phật học viện. Kết quả, thầy thi đậu lớp Sơ trung 2, tôi thi đậu vào lớp Sơ trung 1